Nội dung hội nghị Hiếm Muộn Toàn Quốc II
Hội nghị Hiếm muộn toàn quốc II (HNHMTQ II) đã vinh dự đón tiếp 221 đại biểu từ 24 tỉnh thành trong cả nước và nhất là có sự hiện diện chỉ đạo của:
Thứ trưởng Bộ Y tế PGS-TS Nguyễn Viết Tiến
Vụ trưởng vụ Sức Khỏe Bà Mẹ Trẻ Em TS-BS Nguyễn Duy Khê
Giám đốc Sở Y tế TPHCM TS-BS Phạm Việt Thanh
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của ngành hỗ trợ sinh sản (HTSS), ngày nay hàng triệu cặp vợ chồng hiếm muộn trên thế giới đã có thể thắp sáng niềm tin, hy vọng và thực hiện được thiên chức làm cha mẹ ....
Tinh dịch đồ là một xét nghiệm cơ bản giúp đánh giá khả năng sinh sản của nam giới. Do đó việc phân tích tinh dịch theo tiêu chuẩn của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) rất cần thiết vì thông qua kết quả tinh dịch đồ cùng với các dữ liệu từ phía người vợ, Bác Sĩ lâm sàng sẽ đưa ra quyết định lựa chọn phương pháp điều trị....
Vào những năm đầu của TTTON, trọng tâm chính của hầu hết các trung tâm là vượt qua những rào cản trong chọc hút trứng, thụ tinh trứng thành công, và có phôi để chuyển. Qua những năm TTTON đạt được chuẩn thực hành và mặc dù mục tiêu chính vẫn là bệnh nhân có thai, chúng ta phải đối mặt với những tiêu chí khác như sức khỏe của bé, tính an toàn và hiệu quả của các quy trình; vì thế quản lý chất lượng trở thành một điểm quan trọng (1)...
Thách thức mỗi ngày của lab TTTON là giữ các giao tử và phôi của bệnh nhân an toàn với khả năng thành công cao. Mỗi ngày, chúng ta đang làm việc trong một môi trường năng động với nhiều bệnh nhân khác nhau. Những bệnh nhân này là một biến số lớn về tuổi, nguyên nhân hiếm muộn, dự trữ buồng trứng – danh sách này có thể không có điểm kết...
PGD hiện đang là một lựa chọn gây được nhiều quan tâm trong lĩnh vực chẩn đoán tiền sản nhằm ngăn ngừa nguy cơ trẻ sinh ra có các rối loạn nghiêm trọng về di truyền. Tại hầu hết các phòng thí nghiệm PGD, kỹ thuật FISH (Fluorescent in situ hybridization – kỹ thuật lai phát huỳnh quang tại chỗ) được dùng để phát hiện thể lệch bội và chuyển đoạn gen, và kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction – phản ứng tổng hợp dây chuyền nhờ polymerase) giúp phát hiện các rối loạn đơn gen...
Đã hơn 30 năm kể từ sự kiện thành công đầu tiên của thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) và cha đẻ của phương pháp này, nhà sinh lý học người Anh Robert Edwards, đã được nhận giải Nobel y học năm 2010. Mặc dù từ đó tới nay kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã có những bước tiến vượt bậc và khẳng định được những ưu thế, nhưng sự tranh luận về việc sử dụng nội soi ổ bụng trong chẩn đoán và điều trị vô sinh vẫn còn tiếp diễn (Feinberg, 2008)....
Sự ra đời kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (KTHTSS) thay thế ngành ngoại khoa như là một điều trị đầu tay trong vô sinh không đáp ứng với điều trị nội. Trung bình KTHTSS chiếm 35% tỷ lệ trẻ sinh sống/ chu kỳ, nhiều hơn so với điều trị phẫu thuật đơn độc. Thuận lơi trong HTSS là thời gian có thai nhanh hơn; bệnh nhân có thể mang thai trong vòng 1 tháng ngay sau bắt đầu điều trị. Đối với phẫu thuật, thời gian có thai có thể > 2 năm....
Khảo sát dự trữ buồng trứng (DTBT) đã trở thành một trong những xét nghiệm không thể thiếu trong qui trình điều trị hỗ trợ sinh sản. Khảo sát DTBT giúp cho việc tư vấn bệnh nhân tốt hơn và chọn lụa phác đồ điều trị phù hợp hơn. Có nhiều xét nghiệm về nội tiết, về siêu âm dựa trên các cơ chế liên quan đến độ tuổi sinh sản đã được ứng dụng trên lâm sàng để khảo sát DTBT....
Từ năm 1983, khi Trounson và Morh báo cáo trường hợp có thai thành công đầu tiên sau điều trị bằng chu kỳ chuyển phôi trữ (FET), phương pháp này dần trở nên phổ biến và đã trở thành một trong những kỹ thuật hiệu quả nhất để nâng cao tỉ lệ có thai hiện nay. Mặc dù tỉ lệ có thai trong chu kỳ FET thấp hơn chu kỳ chuyển phôi tươi, FET làm gia tăng tỉ lệ có thai dồn...