Trữ lạnh tinh trùng là một kỹ thuật được thực hiện nhằm lưu giữ tinh trùng ở nhiệt độ của nitơ lỏng trong một thời gian cho đến khi cần sử dụng lại. Kỹ thuật này đã được các nhà khoa học biết đến ngay từ những năm cuối của thế kỷ 18. Tuy nhiên, đến năm 1953, đứa bé đầu tiên ra đời từ sự thụ tinh giữa trứng và tinh trùng sau trữ lạnh mới được ghi nhận. Cho đến nay, trữ lạnh tinh trùng là một kỹ thuật đang được áp dụng một cách rộng rãi không chỉ trong ngành công nghiệp chăn nuôi mà còn trở thành một kỹ thuật không thể thiếu trong các trung tâm điều trị vô sinh lớn ở các nước trên thế giới. Trữ lạnh tinh trùng được thực hiện tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ từ năm 1995.
Nguyên tắc và kỹ thuật thực hiện
Trữ lạnh tinh trùng cũng dựa trên nguyên tắc của trữ lạnh phôi, tuy nhiên, do cấu trúc đặc biệt của tinh trùng so với phôi và trứng (kích thước nhỏ, chứa ít bào tương) nên việc trữ lạnh tinh trùng thường đơn giản hơn, tỉ lệ sống cao hơn. Mẫu tinh dịch sau khi ly giải (hóa lỏng) hoàn toàn sẽ được pha với môi trường trữ lạnh (thường có chứa chất bảo quản đông lạnh là glycerol) và được cho và các ống chứa nhỏ bằng plastic. Quá trình hạ nhiệt độ của mẫu trữ có thể được thực hiện (1) một cách từ từ thông qua hệ thống máy được cài đặt sẵn chương trình hay (2) hạ nhiệt độ bằng cách tự điều chỉnh thủ công qua hơi nitơ lạnh trong bình chứa. Mẫu sẽ được lưu trữ trong nitơ lỏng, ở nhiệt độ là –196oC cho đến khi cần dùng đến.
Hiệu quả của trữ lạnh tinh trùng
Tương tự trong trữ lạnh phôi, quá trình trữ lạnh – rã đông cũng có thể gây ra những thương tổn cho tinh trùng. Nghiên cứu cho thấy những thương tổn này có thể được biểu hiện thông qua giảm khả năng di động của tinh trùng, giảm khả năng sống, làm tinh trùng biến dạng hay ảnh hưởng đến khả năng thụ tinh của chúng.
Để đánh giá hiệu quả của một chương trình trữ lạnh tinh trùng, người ta dựa vào khái niệm “tỷ lệ tinh trùng sống” – cryosurvival factor (CSF), thông thường chỉ số này phải trên 50%. Theo kết quả một nghiên cứu được thực hiện tại khoa Hiếm muộn, các tác giả nhận thấy chất lượng tinh trùng trước trữ có ảnh hưởng rất lớn đến “tỷ lệ tinh trùng sống”. Những mẫu tinh trùng trước trữ có mật độ ( 50 triệu/ml và độ di động ( 50% thường có tỷ lệ sống sau một chu kỳ trữ lạnh – rã đông cao hơn những mẫu khác một cách đáng kể. Tuy nhiên, với sự áp dụng ngày càng rộng rãi của kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI), khi chỉ cần một tinh trùng còn sống để thụ tinh với một trứng trưởng thành, “tỷ lệ tinh trùng sống” hầu như không còn được quan tâm nhiều như trước đây.
Tính an toàn của trữ lạnh tinh trùng
Ở nhiệt độ –196oC, hầu hết các hoạt động sinh hóa của tế bào đều bị ngưng trệ. Do đó, nếu tất cả các yêu cầu về kỹ thuật đều được thực hiện một cách nghiêm túc, tinh trùng có thể được trữ lạnh trong thời gian rất dài mà hầu như không ảnh hưởng gì đến chất lượng sau rã đông. Nhiều nghiên cứu cũng đã được thực hiện nhằm khảo sát sự phát triển của trẻ sinh ra từ tinh trùng sau trữ lạnh. Không có sự khác biệt nào được tìm thấy từ nhóm trẻ này so với nhóm chứng, kể cả các chỉ số về phát triển tâm thần, vận động và thể chất.
Ứng dụng của kỹ thuật trữ lạnh tinh trùng
Trữ lạnh tinh trùng, bên cạnh trữ lạnh phôi, hiện là một trong những kỹ thuật được áp dụng một cách thường quy tại các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) lớn trên thế giới. Kỹ thuật này có thể được ứng dụng rất nhiều trong lĩnh vực điều trị vô sinh, nhằm tăng hiệu quả của việc điều trị. Một số chỉ định thường gặp là:
- Không thể lấy tinh trùng vào ngày định trước (trong kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng trứng – IUI hay TTTON): nhiều trường hợp do bị căng thẳng, ức chế về mặt tâm lý hay bận đi công tác xa …, người chồng không thể đến lấy tinh trùng theo ngày qui định. Trong những trường hợp này, người chồng có thể trữ lạnh tinh trùng trước đó. Tuy nhiên, như đã đề cập, để đảm bảo hiệu quả điều trị, nhất là trong các chu kì IUI, tinh trùng trước trữ của người chồng cần có chất lượng tốt.
- Không tinh trùng: Hiện nay, đối với trường hợp không có tinh trùng trong mẫu xuất tinh, người ta có thể tiến hành phẫu thuật lấy tinh trùng từ mào tinh (nơi lưu giữ tinh trùng) hay từ tinh hoàn (nơi sản xuất tinh trùng). Trong những trường hợp này, tinh trùng còn dư có thể được trữ lạnh để sử dụng sau này, giúp bệnh nhân không phải phẫu thuật lại lần thứ hai. Tại bệnh viện Từ Dũ, hiện chúng tôi đã tiến hành trữ lạnh tinh trùng cho trên 20 trường hợp hút được tinh trùng từ mào tinh. Các kết quả bước đầu cho thấy sau rã đông, số tinh trùng còn sống thu được đủ để có thể thực hiện ICSI cho bệnh nhân.
- Duy trì khả năng sinh sản: Người ta thấy rằng việc áp dụng hóa trị hay xạ trị trong các bệnh lý ác tính (ung thư, Hodgkin …) đều có ảnh hưởng đến quá trình sinh tinh, và có khả năng dẫn đến suy tinh hoàn tạm thời hoặc vĩnh viễn; ngoài ra, còn có thể gây những đột biến về chất liệu di truyền ở tinh trùng. Do đó, trước khi tiến hành điều trị các bệnh lý này, tại các nước trên thế giới, bệnh nhân thường được hướng dẫn lấy mẫu tinh trùng đem trữ lạnh để sử dụng sau này. Trữ lạnh tinh trùng còn có thể thực hiện trước khi thắt ống dẫn tinh.
- Thành lập ngân hàng tinh trùng: Trong tương lai, khi nghị định chính phủ về việc cho-nhận tinh trùng trong những trường hợp không tinh trùng hay có bất thường tinh trùng nặng được ban hành, việc đảm bảo tính vô danh của người cho đối với người nhận, cũng như đảm bảo các mẫu tinh trùng của người cho không bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục là một trong những điều kiện ưu tiên hàng đầu cần phải được tuân thủ. Để có thể thực hiện được những yêu cầu này, thành lập ngân hàng tinh trùng, với sự hỗ trợ của kỹ thuật lạnh tinh trùng, là một trong những bước đi không thể thiếu.
Tài liệu tham khảo
Thời sự Y Dược học 2000, 5(1): 8-13
Hum Reprod Update (2001)7: 33-7



Hiếm muộn




