Tình hình thực hiện kỹ thuật chuyển giao tử / phôi vào vòi trứng (GIFT/ZIFT) trên thế giới
BS Đặng Quang Vinh – BS. Hồ Mạnh Tường

Đứa bé thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) đầu tiên trên thế giới chào đời vào năm 1978. Với mục đích làm tăng hiệu quả của một chu kỳ điều trị, các kỹ thuật chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT) hay chuyển phôi vào vòi trứng (ZIFT) được đưa ra và áp dụng rộng rãi rất sớm, ngay từ những năm đầu của thập niên 80. Về mặt lý thuyết, trước đây, người ta cho rằng kỹ thuật GIFT/ZIFT có thể có những ưu điểm so với chuyển phôi vào buồng tử cung (IVF-ET) như phù hợp với sinh lý, giúp phôi phát triển tốt hơn và trong một số trường hợp, có thể hạn chế tổn thương đến niêm mạc lòng tử cung… Tuy nhiên, kỹ thuật này cũng có những bất lợi nhất định như không áp dụng được cho các trường hợp bất thường tai vòi, trong khi đây là một trong những nhóm đối tượng chính của TTTON. Ngoài ra, để thực hiện GIFT/ZIFT còn đòi hỏi gây mê, cần được thực hiện với thông qua kỹ thuật nội soi ổ bụng, do đó, chi phí cao hơn và tăng sự bất tiện cũng như nguy cơ cho bệnh nhân.

Gần đây, vai trò của GIFT/ZIFT đang được nhiều trung tâm TTTON trên thế giới xem xét và đánh giá lại, đặc biệt ở Mỹ. Trong một nghiên cứu meta-analysis, với số liệu từ 6 nghiên cứu ngẫu nhiên có nhóm chứng, được thực hiện tại trường đại học Yale, Mỹ vào năm 2001, các tác giả nhận thấy tỷ lệ có thai giữa hai phương pháp GIFT/ZIFT và IVF-ET là như nhau. Điều này có thể là kết quả của các nỗ lực không ngừng trong việc cải tiến điều kiện nuôi cấy phôi trong phòng thí nghiệm trong thời gian qua. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng với phương pháp GIFT/ZIFT, nguy cơ bị thai ngoài tử cung tăng gấp đôi. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy GIFT/ZIFT-một kỹ thuật tốn kém, phức tạp, xâm lấn-không có lợi điểm đáng kể nào so với IVF-ET.

Trong thực tế, theo báo cáo của một tổng kết công bố vừa mới đây của Hội Y học sinh sản Mỹ (11/2002), sử dụng số liệu của trên 650.000 chu kỳ điều trị ở tất cả trung tâm TTTON của Mỹ, tỷ lệ áp dụng kỹ thuật GIFT/ZIFT hiện nay chiếm chưa đến 3%. Đồng thời, số trung tâm còn thực hiện kỹ thuật GIFT, ZIFT giảm chỉ còn 80/360 và 55/360 trung tâm. Lý do các trung tâm này còn thực hiện các kỹ thuật trên chủ yếu do tôn giáo và cá nhân. Đây là số liệu thống kê tình hình thực hiện kỹ thuật HTSS ở Mỹ vào năm 1999. Số trung tâm này còn thấp hơn nếu tính ở thời điểm 2002.

Trong khi GIFT và ZIFT chỉ còn được thực hiện ở một ít trung tâm ở Mỹ, thì ở Châu Âu, các kỹ thuật này hầu như không còn được thực hiện. Theo các báo cáo ở Châu Âu của Hội Sinh sản và Phôi học người Châu Âu (ESHRE), từ 1995, không thấy có ghi nhận số liệu về GIFT, ZIFT.

Các số liệu trên cho thấy, cũng như với một số kỹ thuật thuộc về lịch sử khác như cấy phôi trong âm đạo, chọc hút trứng qua nội soi, SUZI, PZD, co-culture…, GIFT và ZIFT hiện rất ít hoặc không còn được áp dụng ở hầu hết các nước trên thế giới.

Nhược điểm của GIFT, ZIFT

- Nguy cơ và biến chứng của gây mê
- Nguy cơ và biến chứng của phẫu thuật nội soi
- Tăng chi phí vì phải thực hiện thêm phẫu thuật nội soi
- Tăng chi phí và thời gian hậu phẫu
- Không có cơ hội để chọn lựa phôi tốt để chuyển
- Có thể tăng nguy cơ thai ngoài tử cung

Tài liệu tham khảo
Fertility and Serility (2001), 76: 286-93
Fertility and Serility (2002), 78: 943-50
Human Reproduction (2002), 17: 3260-3274
Textbokk of Assisted Reproductive Techniques – NXB Matin Dunitz (2001): 610