Thụ tinh trong ống nghiệm cho trứng: Qui trình kỹ thuật, kết quả và ích lợi
BS. Vương Thị Ngọc Lan
04/07/2008

Đại cương
Thụ tinh trong ống nghiệm với trứng người cho thành công đầu tiên trên thế giới vào năm 1983 và đứa bé đầu tiên của kỹ thuật này ra đời 1984 tại Uc. Từ đó đến nay, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm – cho trứng (TTTON – cho trứng) ngày càng phát triển rộng rãi và trở thành một phương pháp điều trị thường qui ở các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm trên thế giới. Ban đầu, kỹ thuật TTTON – cho trứng được áp dụng cho những trường hợp suy buồng trứng sớm. Sau đó, kỹ thuật này được mở rộng áp dụng cho các chỉ định khác như phụ nữ quanh tuổi mãn kinh sinh lý, buồng trứng đáp ứng kém với kích thích buồng trứng, các phụ nữ đã thất bại nhiều chu kỳ TTTON với trứng của chính mình, các phụ nữ bị cắt 2 buồng trứng do u nang buồng trứng, ung thư buồng trứng, xạ trị, hoá trị gây suy buồng trứng và các phụ nữ có những bất thường nhiễm sắc thể. TTTON- cho trứng đã được thực hiện thành công tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ từ năm 1999.

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, ngày càng nhiều những phụ nữ lớn tuổi, chức năng buồng trứng bị suy giảm mong muốn được làm mẹ. Trong dân số chung của phụ nữ, ở quanh tuổi 20, người phụ nữ có khả năng sinh sản cao nhất, tuy nhiên, đến 35 tuổi, khả năng sinh sản giảm còn một nửa và chỉ còn khoảng 1% khi người phụ nữ đến tuổi 40 và hơn nữa. Tương tự, trong TTTON, tỉ lệ thành công giảm rõ rệt khi người phụ nữ lớn hơn hay bằng 35 tuổi.

Nghiên cứu tại Khoa Hiếm Muộn, bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ, kết quả thai lâm sàng của kỹ thuật TTTON ở bệnh nhân ( 40 tuổi (chỉ tính những bệnh nhân đủ điều kiện chọc hút trứng) chỉ là 16% và ở bệnh nhân đáp ứng kém với kích thích buồng trứng là 9,9%, giảm đi 5 lần so với tỉ lệ thai lâm sàng ở bệnh nhân tuổi trẻ và đáp ứng buồng trứng bình thường. Với những bệnh nhân tiên lượng kém này, TTTON – cho trứng là một giải pháp hiệu quả giúp họ có khả năng làm mẹ. Hơn nữa, theo thống kê của Khoa Hiếm Muộn năm 2002, có 51,3% bệnh nhân làm TTTON có độ tuổi từ 35 tuổi trở lên và 20,8% từ 40 – 45 tuổi. Như vậy, nhu cầu áp dụng kỹ thuật TTTON – cho trứng ở Việt Nam là rất lớn nhằm mang lại hạnh phúc cho những cặp vợ chồng vô sinh tưởng như không thể điều trị được.

Chỉ định của kỹ thuật TTTON – cho trứng
1. Suy buồng trứng sớm
2. Suy buồng trứng sau phẫu thuật
3. Không quan sát được buồng trứng do dính
4. Đáp ứng kém với kích thích buồng trứng
5. Thất bại trên 4 chu kỳ TTTON
6. Tuổi tiền mãn kinh
7. Mãn kinh sinh lý
8. Bất thường di truyền
9. Hội chứng kháng buồng trứng

Tiêu chuẩn người cho trứng
1. Tuổi 18 – 35
2. Đã có gia đình và có ít nhất một con bình thường khoẻ mạnh
3. Con nhỏ nhất lớn hơn 12 tháng
4. Không mắc bệnh lý nội ngoại khoa, bệnh lây truyền qua đường tình dục, bệnh lý di truyền nào
5. Test HBsAg, HIV, BW âm tính
6. Xét nghiệm nội tiết đánh giá chức năng buồng trứng bình thường
7. Không có tiền căn phẫu thuật trên buồng trứng
8. Không có khối u buồng trứng, lạc nội mạc tử cung, hội chứng buồng trứng đa nang
9. Không đang cho con bú
10. Không đang sử dụng nội tiết tránh thai

Tiêu chuẩn người nhận trứng
1. Tuổi từ 18 – 45
2. Vô sinh cần thực hiện kỹ thuật TTTON – cho trứng do có một trong các chỉ định kể trên.

Quy trình thực hiện
1. Thủ tục pháp lý: theo Nghị định của Chính phủ về Sinh con theo phương pháp khoa học tháng 2/2003 và Thông tư hướng dẫn cuả Bộ Y tế tháng 6/2003, người cho và nhận trứng phải thực hiện các cam kết trên nguyên tắc tự nguyện cho và nhận trứng.
2. Khám tổng quát và thực hiện các khảo sát để nhận những người cho và nhận trứng đúng tiêu chuẩn
3. Sử dụng nội tiết để điều chỉnh chu kỳ kinh nguyệt của người cho và nhận trứng cho giống nhau.
4. Kích thích buồng trứng của người cho trứng song song với chuẩn bị nội mạc tử cung của người nhận trứng bằng nội tiết.
5. Chọc hút lấy trứng của người cho trứng
6. Tinh trùng của chồng người nhận được lấy cùng ngày với ngày chọc hút trứng
7. Thụ tinh trong ống nghiệm trứng người cho với tinh trùng chồng người nhận
8. Chuyển phôi vào buồng tử cung người nhận trứng. Hỗ trợ giai đoạn hoàng thể
9. Thử thai và hỗ trợ nội tiết thai kỳ nếu có thai.


 

 

 


Kết quả và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả

Tỉ lệ có thai lâm sàng thay đổi từ 22 – 67% tùy trung tâm, trung bình là 53,4% và tỉ lệ trẻ sanh sống từ kỹ thuật này là 42,6%.

Biểu đồ 1: Tỷ lệ thai lâm sàng của TTTON-cho trứng

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả:
- Tuổi người cho và người nhận trứng
- Số lượng và chất lượng trứng
- Kỹ thuật chuẩn bị nội mạc tử cung
- Kỹ thuật tạo phôi
- Kỹ thuật chuyển phôi
- Chất lượng phôi chuyển vào buồng tử cung

Các ích lợi của kỹ thuật TTTON – cho trứng
1. Số lượng trứng có được nhiều và chất lượng trứng tốt hơn.
2. Khả năng trứng bị bất thường nhiễm sắc thể thấp hơn do trứng được lấy từ người trẻ tuổi, do đó, tỉ lệ trẻ sanh ra bị dị tật thấp hơn. Nghiên cứu ở những phụ nữ có thai từ chính trứng của mình, tác giả Cunningham và cs. đã ghi nhận tỉ lệ trẻ bị bất thường nhiễm sắc thể là 0,1% ở mẹ 25 tuổi, tăng lên 2% ở mẹ 45 tuổi.
3. Số lượng phôi nhiều hơn, chất lượng phôi tốt hơn
4. Có phôi dư được trữ lạnh để sử dụng sau này
5. Chi phí thấp hơn do số thuốc cần sử dụng để kích thích buồng trứng của người cho trứng ít hơn.
6. Tỉ lệ có thai cao hơn, có thể đến 50%.

Tóm lại, TTTON – cho trứng là một kỹ thuật mang tính nhân đạo, thể hiện sự tương thân, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng. TTTON- cho trứng là một kỹ thuật điều trị hiệu quả cho những phụ nữ buồng trứng không còn hoạt động hoặc suy giảm chức năng.

Tài liệu tham khảo
- Reproductive Endocrinology. 1991;9:165-175.
- William Obstetrics, 18th editon, 1989.
- Human Reproduction, 2001 (16), Abstract book 1, R060:222.
- World Collaborative Report on ART, 1998. Presented at the 17th World Congress on Fertility and Sterility, Melbourne, Australia, 11/2001.