(Second Asian Fertility Expert Meeting – AFEM)
Hội nghị AFEM diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 20-23 tháng 11 năm 2003 do hãng Organon tài trợ. Hội nghị có 11 báo cáo, trong đó có 2 báo cáo của Việt nam. Chuyên đề báo cáo và thảo luận chung quanh các dạng thuốc kích thích buồng trứng trong chương trình điều trị vô sinh và đặc biệt trong thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).
Từ những năm 70, đã có những dạng thuốc FSH, kích thích các nang noãn phát triển, chiết xuất từ nước tiểu người mãn kinh, có tác dụng tốt (Humegon, Pergonal). Các loại này chứa FSH và LH tỉ lệ 1:1. Các dạng FSH chiết xuất tinh khiết sau đó cũng đã được giới thiệu (Metrodine, Metrodine HP). Giữa thập niên 90, FSH tái tổ hợp đã được giới thiệu (Puregon, Gonal-F). Loại này hoàn toàn tinh khiết, không chứa LH hoặc tạp chất nào khác. Các loại FSH tái tổ hợp được báo cáo là có tác dụng kích thích phóng noãn tốt hơn và tỉ lệ có thai cao hơn các dạng chiết xuất từ nước tiểu.
Trong hội nghị này, Kotas Papadopoulos (Hy lạp) đã báo cáo các công trình nghiên cứu cải tiến và các hoạt động của Organon trong lãnh vực hỗ trợ sinh sản. Sản phẩm mới của Organon hiện nay ở Việt nam ngoài Puregon dạng dung dịch, còn có Orgalutran, một loại GnRH đối vận, sử dụng trong kích thích buồng trứng có kiểm soát của IVF. Phác đồ này ngắn hơn, tiết kiệm về thời gian và chi phí so với phác đồ dài cổ điển.
Calaf Alsina (Tây ban nha) giới thiệu hiệu quả sử dụng của “Puregon Pen”, một dạng bào chế đặc biệt của Puregon, dưới hình thức thuốc nước được nạp sẵn trong dụng cụ tiêm như cái bút, có thể bắt đầu với liều thấp nhất là 25 đơn vị FSH và tăng dần ở nhiều mức theo đáp ứng của bệnh nhân.
Báo cáo của P Plateau (Bỉ) cho thấy Puregon Pen sử dụng trong IVF thì dễ dùng hơn và tiết kiệm thuốc hơn so với dạng Gonal-F bột pha tiêm vì không phải pha thuốc và bệnh nhân có thể tự tiêm dễ dàng. Kết quả có thai không khác biệt khi so sánh giữa 2 thuốc.
Nyboe Anderson (Đan mạch) báo cáo những yếu tố tiên lượng hướng dẫn chọn liều FSH khởi đầu phù hợp cho từng bệnh nhân. Các yếu tố tiên lượng bao gồm: tuổi, cân nặng, BMI, có hút thuốc lá hay không, thể tích buồng trứng và tổng số nang nhỏ (<5mm và 5-10mm) vào ngày 2-5 của chu kỳ, Doppler đo luồng máu đi vào buồng trứng, định lượng FSH, estradiol, testosterone và inhibin.
D Choi (Hàn quốc) báo cáo về ảnh hưởng của FSH tái tổ hợp trên môi trường xung quanh nang trong quá trình kích thích buồng trứng. Các số liệu nghiên cứu cho thấy so với hMG và FSH tinh khiết chiết xuất từ nước tiểu, FSH tái tổ hợp có:
- Tính mức độ tinh khiết cao, hoạt tính đặc hiệu cao, thành phần ổn định và hoạt tính sinh lý nội tiết cao hơn
- Trên lâm sàng, có tỉ lệ có thai cao hơn trong IVF, kể cả nhóm bệnh nhân kém đáp ứng và hội chứng buồng trứng đa nang.
D Shapiro (Mỹ) báo cáo về kinh nghiệm sử dụng Orgalutran trong IVF. Tác giả kết luận sử dụng Orgalutran trong IVF cho kết quả có thai cao, thời gian điều trị ngắn hơn. Tuy nhiên, Orgalutran không giúp cải thiện kết quả ở những bệnh nhân tiên lượng kém.
Vương Thị Ngọc Lan (Việt nam) báo cáo kinh nghiệm sử dụng Orgalutran tại Việt nam. Kết quả cho thấy sử dụng Orgalutran trong IVF cho kết quả tương đương với phác đồ dài cổ điển nhưng thời gian điều trị ngắn hơn, an toàn hơn, tỉ lệ quá kích buồng trứng thấp hơn và số đơn vị FSH sử dụng cũng ít hơn.
A Riccaboni (Ý) báo cáo việc sử dụng Orgalutran kết hợp FSH trong phác đồ kích thích buồng trứng và IUI. Tác giả cho rằng đây là một phác đồ này đạt hiệu quả cao và an toàn.
Nyboe Anderson (Đan mạch) báo cáo kinh nghiệm chỉ chuyển 1 phôi sau IVF tại Bắc Âu. Tác giả cho rằng nên đánh giá thành công của một trung tâm dựa vào số sinh đơn thai sau chuyển phôi hoặc số phôi chuyển để có đơn thai. Dựa trên chi phí chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng và chi phí làm IVF ở các nước Bắc Âu (Ở các nước Bắc Âu, người dân được bảo hiểm chi trả khi làm IVF.), tác giả đề nghị chỉ chuyển 1 phôi khi làm IVF, các phôi còn dư được trữ lạnh và sử dụng dần sau đó nhằm mục đích giảm tỉ lệ đa thai.
Hồ Mạnh Tường (Việt nam) báo cáo về sự phát triển của các cháu từ 12-55 tháng tuổi sinh ra đầu tiên tại Việt nam nhờ phương pháp IVF/ICSI. Cuộc khảo sát được thực hiện cuối năm 2002. Có 281 trẻ từ 189 bà mẹ đã được khảo sát. Kết quả cho thấy hầu hết các cháu đều phát triển bình thường về thể chất, tâm lý và sức khoẻ. Nguy cơ chậm phát triển cao hơn ở các trẻ sinh 3 và sinh 4.



Hiếm muộn



