Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI): Những điều cần biết
BS Đặng Quang Vinh

Từ sau trường hợp thành công đầu tiên trên người vào những năm đầu của thập niên 90, kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) đã trở thành một trong những kỹ thuật không thể thiếu trong một trong tâm điều trị vô sinh hiện đại. Chỉ định của ICSI ngày nay không chỉ gói gọn trong điều trị vô sinh do bất thường tinh trùng hay không tinh trùng mà còn được mở rộng trong nhiều trường hợp khác. Số liệu tại Hoa kỳ cho thấy số chu kỳ có thực hiện ICSI ngày càng tăng, chiếm khoảng 60% các chu kỳ điều trị.

ICSI là một kỹ thuật có thể được xem là không tự nhiên, khi các rào cản như lớp tế bào quanh noãn, màng trong suốt, màng bào tương trứng trở nên không có tác dụng. Hơn nữa, với ICSI, những tinh trùng lẽ ra không có khả năng thụ tinh với trứng trong tự nhiên do những bất thường về hình dạng, di động lại có thể được đưa vào bào tương trứng để hình thành phôi sau này. Chính vì vậy, một vấn đề đang thu hút sự quan tâm của mọi người là tính an toàn của kỹ thuật này, đặc biệt trong những trường hợp có bất thường nặng về tinh trùng.

Tinh trùng và các bất thường về cấu trúc di truyền

Nghiên cứu cho thấy trong những trường hợp bất thường tinh trùng nặng, tỷ lệ tinh trùng có bất thường nhiễm sắc thể cao hơn hẳn so với nhóm chứng. Các bất thường này có thể xuất hiện ở nhiễm sắc thể thường hay nhiễm sắc thể giới tính, làm thay đổi số lượng hay cấu trúc của nhiễm sắc thể. Một trong những bất thường thường gặp nhất là mất một nhánh nhỏ trong nhiễm sắc thể giới tính Y. Trong một nghiên cứu trên 87 cặp vợ chồng đến làm ICSI vào đầu năm 2004 tiến hành tại Mỹ, bất thường này xuất hiện ở những trường hợp có mật độ tinh trùng dưới 5 triệu với tỷ lệ là 4.3%. Đối với những trường hợp không tinh trùng, mất đoạn nhiễm sắc thể Y xuất hiện với tần suất cao hơn, khoảng 17%.

Ngoài ra, những bất thường này còn có thể xuất hiện ở mức độ phân tử, biểu hiện qua các tổn thương về cấu trúc gen. Dohle và cs cho thấy bất thường về gene trong nhóm bất thường nặng tinh trùng là 10%. Trong một nghiên cứu mới đây, có đến 25% các trường hợp không tinh trùng là do bất sản ống dẫn tinh bẩm sinh (CBAVD). Trong nhóm người này, người ta thấy có một tỷ lệ khá cao bị đột biến gen CFTR, một gen có nhiệm vụ điều hoà sự vận chuyển các ion qua màng tế bào. Tuy nhiên, trong dân số châu Á, tỷ lệ có bất thường CFTR là rất thấp, được ước tính xảy ra với tần số là 1 trong 90.000 trẻ sinh sống.

Ảnh hưởng của chất lượng tinh trùng lên quá trình thụ tinh, phát triển phôi

Vai trò của chất lượng tinh trùng trong ICSI dường như không đóng vai trò đặc biệt quan trọng như đối với thụ tinh trong ống nghiệm cổ điển (IVF). Nagy và cs đã cho thấy ngoại trừ những trường hợp dị dạng tinh trùng nặng, thì dù tinh trùng lấy trong tinh dịch, trong mào tinh hay trong tinh hoàn, tỉ lệ có thai đạt được cũng gần tương đương. Hay nói một cách khác, tỉ lệ thành công của ICSI ít phụ thuộc vào chất lượng và nguồn gốc tinh trùng.

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy nếu mật độ tinh trùng < 1 triệu/ml thì tỷ lệ thụ tinh thấp hơn so với những trường hợp có mật độ trên 5 triệu/ml (58% so với 71%). Tỷ lệ di động của mẫu tinh dịch cũng ảnh hưởng không ít đến tỷ lệ thụ tinh. Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ trứng được thụ tinh bình thường sau ICSI giữa những mẫu có độ di động < 1% và so với những mẫu có tỷ lệ di động bình thường.

Ngoài ra, bất thường tinh trùng còn có khả năng ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi được hình thành. Trong một nghiên cứu do Vendrell và cs thực hiện tại Tây Ban Nha năm 2003, khi khảo sát ảnh hưởng của chất lượng tinh trùng lên sự phát triển của phôi được hình thành, các tác giả nhận thấy khi chất lượng tinh trùng càng kém thì tốc độ phân chia phôi càng chậm. Điều này có thể ảnh hưởng đến chất lượng của phôi chuyển.

Ảnh hưởng của chất lượng tinh trùng lên trẻ sinh ra

Như đã trình bày, những mẫu tinh trùng có chất lượng càng kém thì khả năng có bất thường di truyền càng cao. Những bất thường này trên lý thuyết có thể truyền qua cho các thế hệ sau thông qua ICSI, tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào có thể xác định được mức độ ảnh hưởng của các bất thường này . Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu cho đến hiện nay đều cho thấy tỷ lệ trẻ sinh ra sau ICSI có bất thường nhiễm sắc thể và có dị tật bẩm sinh gần như tương đương với nhóm IVF và hầu như không khác biệt với nhóm dân số tự nhiên. Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy không có sự khác biệt về sự phát triển của trẻ khi so sánh trẻ sinh ra từ nhóm thuộc người cha có đứt đoạn nhiễm sắc thể Y và nhóm không có. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy những bất thường này đa số không ảnh hưởng đến sức khỏe chung, thường chỉ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của trẻ sau này.

Kinh nghiệm tại bệnh viện Từ Dũ

Với gần 1200 chu kỳ điều trị trong năm 2003 vừa qua, có trên 800 trường hợp áp dụng kỹ thuật ICSI, chiếm 75% tổng số chu kỳ điều trị. Cho đến nay, sau hơn 4 năm triển khai kỹ thuật ICSI, tại bệnh viện Từ Dũ, đã có hàng trăm trẻ ra đời từ kỹ thuật này. Tất cả những trường hợp có chỉ định ICSI do bất thường tinh trùng nặng đều được thực hiện nhiễm sắc thể đồ nhằm tầm soát các bất thường về di truyền có thể có và đều được tư vấn đầy đủ về kỹ thuật. Theo một nghiên cứu được thực hiện năm 2003 trên gần 300 trẻ sinh ra từ các biện pháp hỗ trợ sinh sản tại bệnh viện Từ Dũ, chúng tôi không ghi nhận một trường hợp nào có bất thường nặng. Hầu hết các bé đều có sự phát triển bình thường về thể chất, tâm thần và vận động.

Tóm lại, cho đến hiện nay, tiêm tinh trùng vào bào tương trứng vẫn là một giải pháp hiệu quả nhất trong điều trị vô sinh do nam, và chỉ định của kỹ thuật này ngày càng được mở rộng. Tuy là một kỹ thuật có mức độ xâm lấn cao, nhưng vẫn có thể được xem là một kỹ thuật an toàn với điều kiện kỹ thuật được thực hiện tại những trung tâm được trang bị đầy đủ và bởi những chuyên gia nhiều kinh nghiệm và có một chương trình quản ly thai kỳ, theo dõi trẻ sau sanh đầy đủ.

Tài liệu tham khảo
Hum Reprod. 2004 Feb;19(2):250-53
RBM Online. 2004 Mar;8: 307-18
J Assist Reprod Genet. 2003 Mar;20(3):106-12
Fertil Steril. 1999 Dec;72(6):1113-5