GIỚI THIỆU
Huyết khối tĩnh mạch là tình trạng tắc nghẽn một tĩnh mạch do cục máu đông được vận chuyển trong dòng máu từ một nơi khác đến. Huyết khối tĩnh mạch gồm huyết khối tĩnh mạch sâu và huyết khối tĩnh mạch nông. Một dạng khác của huyết khối tĩnh mạch là tình trạng thuyên tắc phổi, có thể đưa đến tử vong.
Huyết khối tĩnh mạch sâu xảy ra khi cục máu đông được hình thành và làm tắc tĩnh mạch chi dưới hay tĩnh mạch chậu. Huyết khối tĩnh mạch sâu có nguy cơ diễn biến thành thuyên tắc phổi khi cục máu đông bị bóc tách ra khỏi thành mạch.
Huyết khối tĩnh mạch nông thường không gây nguy cơ thuyên tắc phổi và các biểu hiện lâm sàng cũng nhẹ hơn huyết khối tĩnh mạch sâu.
Nguyên nhân khởi phát tình trạng huyết khối tĩnh mạch chưa được hiểu rõ, tuy nhiên, nguy cơ huyết khối tĩnh mạch thường tăng lên trong thai kỳ. Trong thai kỳ, những thay đổi về sinh hóa như tăng nồng độ các yếu tố đông máu, các chất hoạt hóa quá trình đông máu; về sinh lý như sự dãn nở của các tĩnh mạch trong thai kỳ, và sự trì trệ của hệ thống tĩnh mạch do chèn ép của tử cung mang thai thúc đẩy quá trình đông máu nhằm ngăn ngừa hiện tượng chảy máu trong khi sanh. Những yếu tố này làm cho nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tăng gấp 3 lần trong thai kỳ.
TẦN SUẤT và CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
Huyết khối tĩnh mạch xảy ra trong khoảng 1/1000 đến 2/10000 thai kỳ, nhưng đây thường là một nguyên nhân gây tử vong cho người phụ nữ mang thai.
Các yếu tố nguy cơ đưa đến huyết khối tĩnh mạch:
- Tình trạng bất động. Các cơ chân hoạt động như hệ thống bơm để đẩy máu tĩnh mạch ở chi dưới trở về tim. Sự bất động của các cơ chân đưa đến tình trạng ứ máu tĩnh mạch mà hậu quả là tình trạng huyết khối làm viêm tắc tĩnh mạch. Tình trạng bất động thường xảy ra trong phẫu thuật, nằm nghỉ trên giường kéo dài và không thay đổi tư thế trong một thời gian dài.
- Sự bất toàn hệ thống tĩnh mạch. Sự bất toàn hệ thống valve của tĩnh mạch và sự hiện diện của dãn tĩnh mạch làm gia tăng nguy cơ viêm tắc tĩnh mạch huyết khối.
- Suy tim ứ huyết. Trong suy tim ứ huyết, cung lượng tim bị giảm và giảm lượng máu từ tĩnh mạch chi dưới trở về tim.
- Chấn thương. Chấn thương trực tiếp ở chi dưới có thể dẫn đến sự hình thành cục máu đông và gây tình trạng viêm tắc tĩnh mạch huyết khối.
- Tình trạng tăng đông máu. Bệnh lý ác tính, sử dụng estrogen, hội chứng tăng độ nhớt của máu có thể gây tình trạng tăng đông máu, làm tăng nguy cơ viêm tắc tĩnh mạch huyết khối.
CÁC DẤU HIỆU LÂM SÀNG
- Triệu chứng: Bệnh nhân thường đến khám vì đau và sưng một chân.
- Khám thực thể:Nói chung, các dấu chứng thực thể của huyết khối tĩnh mạch sâu thường không rõ ràng. Ép cơ cẳng chân thấy chân bị căng đau trên chỗ ép, bàn chân gập sau và sự gia tăng chu vi cẳng chân bị đau trên 1 cm giúp nghi ngờ tình trạng viêm tắc tĩnh mạch sâu.
- Chẩn đoán: Siêu âm Doppler mạch máu: là xét nghiệm phải được thực hiện khi có nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch. Siêu âm Doppler mạch máu có thể cho thấy các cục máu đông trong lòng mạch và làm giảm dòng chảy trong tĩnh mạch.
Chụp tĩnh mạch cản quang: được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu. Tuy nhiên, thủ thuật này gây đau, có biến chứng và xâm nhập.
ĐIỀU TRỊ
- Thuốc kháng đông: thuốc kháng đông heparin được sử dụng cho các trường hợp huyết khối tĩnh mạch sâu. Thuốc kháng đông giúp phòng ngừa sự hình thành cục máu đông và tạo điều kiện cho hệ thống ly giải tự động của cơ thể hoạt động hiệu quả, phục hồi tình trạng huyết khối tĩnh mạch sâu.
- Thuốc tan huyết: Heparin chỉ giúp phòng ngừa hình thành cục máu đông, thuốc tan huyết như streptokinase và urokinase giúp làm tan cục máu đông đã hình thành bằng cách hoạt hóa sự chuyển đổi plasminogen thành chất ly giải plasmin. Tuy nhiên, tình trạng chảy máu trong khi điều trị thuốc tan huyết xảy ra nặng hơn là với thuốc kháng đông. Hiện tại, chưa có sự thống nhất nên sử dụng loại thuốc nào hơn để điều trị.
Trong quá trình điều trị với thuốc kháng đông, cần cẩn thận để tránh chảy máu. Cần khuyên bệnh nhân:
+ Đánh răng thật nhẹ nhàng
+ Không sử dụng thuốc kháng viêm non-steroid vì các thuốc này sẽ làm giảm hoạt động của tiểu cầu và tăng nguy cơ chảy máu - Huyết khối tĩnh mạch nông không được chỉ định điều trị với thuốc kháng đông. Điều trị huyết khối tĩnh mạch nông bằng cách giữ chân ở tư thế cao, chườm nóng và sử dụng salicylate.
CẦN NHỚ
Bệnh nhân có thai sau TTTON có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch cao hơn bình thường
Chế độ vận động hợp lý sẽ giúp làm giảm nguy cơ này.
PHÒNG NGỪA
Cần biết rằng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sẽ tăng lên khi đã có tiền căn huyết khối tĩnh mạch.
Tránh nằm yên trên giường trong thời gian dài.
Tăng vận động sẽ giúp giảm được các biến chứng của huyết khối tĩnh mạch mà nặng nề nhất có thể đưa đến tử vong là tình trạng thuyên tắc phổi.
Mang vớ đặc biệt giúp chèn ép tĩnh mạch nông, làm cải thiện dòng chảy ở tĩnh mạch sâu, giảm nguy cơ huyết khối.
Tập thể dục bàn chân, tránh ngồi bắt chéo chân trong thời gian dài có thể làm giảm sự dẫn truyền máu ở tĩnh mạch sâu
Những trường hợp đặc biệt có thể được bác sĩ chỉ định sử dụng thuốc kháng đông liều thấp để ngăn ngừa tình trạng huyết khối.
VIÊM TẮC TĨNH MẠCH HUYẾT KHỐI – NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý Ở BỆNH NHÂN TTTON
Gần đây, chúng tôi quan sát thấy một số trường hợp bệnh nhân TTTON bị viêm tắc tĩnh mạch huyết khối sau chuyển phôi và thử thai dương tính. Các bệnh nhân này đã phải được nhập viện chuyên khoa để điều trị với thuốc kháng đông.
Thực tế, ở các bệnh nhân TTTON, trong phác đồ điều trị đã có một số yếu tố nguy cơ của tình trạng huyết khối tĩnh mạch như:
- Tuổi lớn
- Nồng độ estrogen trong máu tăng hơn người bình thường do dự phát triển của các nang noãn buồng trứng làm tăng estrogen và làm dày niêm mạc tử cung
- Sử dụng estrogen ngoại sinh trong những trường hợp chuẩn bị nội mạc tử cung ở người nhận trứng (kỹ thuật TTTON – xin trứng) hay trong chuyển phôi trữ lạnh
Các yếu tố trên là khách quan, không thể thay đổi do yêu cầu chuyên môn của kỹ thuật điều trị đòi hỏi, tuy nhiên, có một yếu tố nguy cơ quan trọng khác mà bệnh nhân có thể tránh được đó là tình trạng bất động trên giường dài ngày sau chuyển phôi và có thai. Các bệnh nhân cần biết rằng, ngoại trừ các trường hợp dọa sẩy thai, hầu hết các bệnh nhân sau khi chuyển phôi không cần thiết phải nằm bất động, vẫn có thể đi lại sinh hoạt bình thường mà không ảnh hưởng đến khả năng có thai.
Các bệnh nhân TTTON cần biết đến một trong những bệnh lý có thể xuất hiện trong quá trình điều trị vô sinh và mang thai và cần thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa như đã trình bày trên để có thể giảm được nguy cơ huyết khối tĩnh mạch gây biến chứng, mặc dù hiếm gặp nhưng đôi khi rất trầm trọng.
Tài liệu tham khảo
High risk pregnancy, 2nd edition, WB Saunder, UK, 2000
Acute obstetrics, 3rd edition, mosby, USA, 2002



Hiếm muộn



