Em bé đầu tiên từ trứng trữ lạnh tại Việt nam
đến nay, trữ lạnh đã trở nên một kỹ thuật không thể tách rời của một trung tâm hỗ trợ sinh sản hiện đại.
Tại Việt nam, chương trình trữ lạnh trứng được triển khai lần đầu tiên tại bệnh viện Từ Dũ vào tháng 07/2003. Trường hợp em bé đầu tiên của Việt nam ra đời từ trứng trữ lạnh tại Bệnh viện Từ Dũ là vào 24/05/2004, cũng vào cùng thời điểm với trường hợp tuơng tự ở Trung quốc, mặc dù TTTON được thực hiện ở Trung quốc trước Việt nam hơn 10 năm. Hiện nay, Bệnh viện Từ Dũ đã trữ lạnh trứng
cho 12 trường hợp; thực hiện rã đông trứng và tạo phôi cho 8 trường hợp. Trong 8 trường hợp này đã có 3 trường hợp có thai, 1 trường hợp đã sanh và 2 trường hợp đang theo dõi thai. Tỉ lệ thành công bước đầu là rất khả quan (3/8 trường hợp, 37.5%). Đứa bé đầu tiên của Việt nam sinh ra từ trữ trứng phát triển bình thường, các thai kỳ còn lại đang được theo dõi định kỳ và các xét nghiệm chẩn đoán tiền sản không phát hiện gì bất thường.
TÌNH HÌNH TRỮ TRỨNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC
Mặc dù trường hợp thành công đầu tiên từ trữ trứng người (1984) chỉ sau trữ phôi một năm (1983), kỹ thuật trữ lạnh trứng vẫn chưa được triển khai rộng rãi do tỷ lệ thành công còn thấp. Báo cáo lớn nhất thế giới cho đến nay về trữ lạnh trứng (1999) cho thấy khoảng 100 trứng trữ lạnh thì mới có 01 trường hợp thành công, mặc dù trong những năm gần đây, kỹ thuật trữ trứng không ngừng được cải tiến và tỷ lệ thành công ngày càng được cải thiện. Mặc dù một trường hợp có thể trữ lạnh và rã đông nhiều trứng cùng một lúc, tỉ lệ có thai trung bình của trữ lạnh trứng người trên thế giới chỉ vào khoảng 10%-20%. Do đó, thống kê trên thế giới hiện chỉ có khoảng 100 bé ra đời từ trứng trữ lạnh. Riêng tại các nước trong khu vực, số liệu cho thấy chỉ có vài trung tâm lớn là có thực hiện kỹ thuật này một cách không thường xuyên. Tại Trung quốc, em bé đầu tiên ra đời từ trứng trữ lạnh được báo cáo vào tháng 04/2004.
NGUYÊN NHÂN CỦA TỶ LỆ THÀNH CÔNG THẤP
Tương tự phôi, trứng được trữ phải trải qua giai đoạn hạ nhiệt độ từ nhiệt độ cơ thể (37oC) xuống nhiệt độ của nitơ lỏng (-196oC). Quá trình hạ nhiệt độ này có thể gây ra một số thay đổi ở môi trường xung quanh, cũng như ngay bên trong tế bào, quan trọng nhất là (1) hình thành tinh thể nước đá và (2) tăng áp suất thẩm thấu do tăng nồng độ chất hòa tan trong môi trường. Những thay đổi này có thể làm tế bào bị tổn thương, bị chết hay ảnh hưởng đến khả năng phát triển sau này.
Ngoài ra, do có một số đặc thù sinh học như lượng nước chứa trong bào tương trứng chiếm tỷ lệ cao cũng như các nhiễm sắc thể bên trong chưa hoàn tất quá trình phân bào, do đó, trứng rất dễ bị tổn thương trong quá trình trữ lạnh-rã đông so với phôi. Bên cạnh đó, nếu quy trình kỹ thuật không đảm bảo, các thương tổn trong cấu trúc di truyền có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bé sau này.
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG
CỦA KỸ THUẬT TRỮ LẠNH TRỨNG TẠI VIỆT NAM
Cho đến nay, bệnh viện Từ Dũ có thể được xem là một trong rất ít trung tâm thực hiện thường xuyên kỹ thuật trữ lạnh trứng trong khu vực. Hiện nay, cả 12 trường hợp có trứng trữ lạnh đều do người chồng không lấy được tinh trùng vào ngày chọc hút trứng vì nhiều lý do. Ngoài ra, trong tương lai, khi tỷ lệ thành công đã cao và tương đối ổn định, việc áp dụng trữ lạnh trứng để thành lập một ngân hàng trứng sẽ giúp cho việc triển khai kỹ thuật TTTON-xin trứng được dễ dàng và an toàn hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Human Reproduction 2001, 16: 411-16
2. Mol cell Endocrinol 2000; 169: 33-7



Hiếm muộn




