Mở đầu
Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một bộ phận quan trọng trong chiến lược chăm sóc sức khỏe của nước ta. Bệnh viện Từ Dũ, thành phố Hố Chí Minh được sự phân công chỉ đạo chuyên khoa về các hoạt động y tế liên quan đến lãnh vực sức khỏe sinh sản cho 32 tỉnh, thành phố phía Nam, chiếm hơn ½ dân số cả nước.
Chính sách chung của ngành y tế nước ta là phát triển y tế theo 2 mục tiêu lớn là phát triển y tế kỹ thuật cao và củng cố hòan thiện hệ thống y tế cơ sở. Trên cơ sở này, trong những năm qua, Bệnh viện Từ Dũ đã tích cực đầu tư phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản bằng theo 2 hướng:
- Đẩy mạnh phát triển y tế kỹ thuật cao, xây dựng các chuyên khoa sâu theo kịp các tiến bộ về y học trong khu vực và trên thế giới
- Củng cố y tế tuyến cơ sở, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa và hệ thống y tế phục vụ đồng bào các dân tộc thiểu số
Phát triển thụ tinh trong ống nghiệm và y tế kỹ thuật cao
Mục tiêu của Dân số và kế hoạch hóa gia đình là đảm bảo cho mỗi gia đình có số con hợp lý để đảm bảo hạnh phúc gia đình và phát triển xã hội. Bên cạnh việc hạn chế sanh nhiều con, việc nghiên cứu các kỹ thuật điều trị để mang lại hạnh phúc cho các cặp vợ chồng vô sinh cũng được nhà nước quan tâm. Theo các thống kê trong và ngoài nước, tỉ lệ các cặp vợ chồng trong tuổi sinh đẻ có vấn đề về vô sinh chiếm tỉ lệ khoảng 10%. Theo đó, ước tính hiện nay ở Việt nam có khoảng 1 triệu cặp vợ chồng có nhu cầu trợ giúp sinh sản. Nhu cầu điều trị TTTON của nhân dân là một áp lực rất lớn và là một torng những động lực chính để chúng tôi đầu tư phát triển kỹ thuật TTTON.
Bên cạnh đó, với chính sách đổi mới và mở cửa, Bệnh viện Từ Dũ bắt đầu tiếp cận nhiều hơn với y học các nước và nhận thấy sự tụt hậu của ngành Sản Phụ khoa nước nhà so với các nước ở nhiều mặt. Từ những năm cuối thập niên 80, chúng tôi đã có những bước đầu tiên để phát triển các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị hiện đại trong Sản Phụ khoa và chuẩn bị từng bước cho kỹ thuật TTTON.
Việc đầu tư thực hiện kỹ thuật TTTON song song với việc phát triển các chuyên ngành có liên quan trong Sản Phụ khoa sẽ giúp cùng lúc cải thiện về chất lượng của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại bệnh viện, rút ngắn khỏang cách về công nghệ với các nước. Sự phat triển của các kỹ thuật y tế cao có liên quan sẽ làm nền tảng cho việc phát triển thành công kỹ thuật TTTON. Do đó từ những năm cuối thập niên ‘80, bệnh viện đã định hướng và đầu tư phát triển các kỹ thuật chẩn đóan và điều trị trong Sản Phụ khoa có liên quan.
- Năm 1986 bắt đầu thành lập phòng di truyền tế bào hỗ trợ chẩn đóan tiền sản.
- Năm 1990 thành lập phòng xét nghiệm nội tiết ứng dụng phương pháp miễn dịch men nhằm cung cấp kết quả nhanh chóng phục vụ yêu cầu của điều trị vô sinh và TTTON. Đây cũng là phòng xét nghiệm đầu tiên ở Việt nam định lượng được hầu hết các nội tiết sinh sản bằng kỹ thuật miễn dịch men. Năm 1992, đầu tư phát triển ứng dụng siêu âm đầu dò âm đạo vào chẩn đóan và điều trị đầu tiên ở Việt nam. Trước đó, Bệnh viện Từ Dũ cũng là nơi đầu tiên ở Việt nam sử dụng máy siêu âm để chẩn đoán.
- Từ 1993, bắt đầu ứng dụng kỹ thuật nội soi trong phụ khoa bao gồm nội soi buồng tử cung và nội soi ổ bụng. Bệnh viện từ Dũ cũng là nơi đầu tiên ứng dụng và triển khai kỹ thuật nội soi trong Phụ khoa ở Việt nam.
- Từ năm 1995, bắt đầu đầu tư thiết bị và đào tạo nhân sư để giảm tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh cực non. Kỹ thuật chăm sóc sơ sinh mạnh sẽ góp phần đáng kể vào việc giảm tử vong sơ sinh nói chung và giúp đảm bảo thành quả của kỹ thuật TTTON.
- Tháng 8/1997, tiến hành thực hiện các trường hợp TTTON đầu tiên. Đến 30/4/1998, 3 trường hợp TTTON đầu tiên ở Việt nam đã ra đời. Lần lượt sau đó, chúng tôi đã triển khai thành công hầu hết các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phổ biến trên thế giới: ICSI (1998), TTTON cho trứng (2000), mang thai hộ (2001), giảm thai (2001), MESA-ICSI (2002), trữ lạnh phôi người (2003), TESE-ICSI (2003), trữ lạnh trứng người (2004)…
Chương trình TTTON đã phát triển không ngừng về mặt kỹ thuật điều trị và qui mô của trung tâm, tạo được uy tín về chuyên môn trong khu vực và thế giới. Số trường hợp thực hiện hàng năm tăng liên tục cùng với sự đa dạng không ngừng các kỹ thuật điều trị: Trong 1997 có 94 trường hợp điều trị với chỉ 1 kỹ thuật điều trị; đến năm 2004 chúng tôi đã điều trị 1943 trường hợp (tăng hơn 20 lần), với hơn 10 kỹ thuật điều trị khác nhau. Kể từ năm 2002, Bệnh viện Từ Dũ trở thành trung tâm TTTON lớn nhất của khu vực Đông Nam Á số chu kỳ điều trị cũng như sự đa dạng của các kỹ thuật điều trị. Tỉ lệ thành công của các kỹ thuật điều trị thực hiện tại Khoa Hiếm muộn Bệnh viện Từ Dũ là tương đương với các báo cáo mới nhất của Mỹ và Châu Aâu (bảng 2).
Bảng 2. Tỉ lệ có thai của một số kỹ thuật điều trị chính, so với Mỹ và Châu Âu
|
Kỹ thuật |
BV. Từ Dũ |
Mỹ |
Châu Âu |
|
IVF |
26,8% |
38,2% |
28,4% |
|
ICSI |
34,9% |
36,5% |
28,7% |
|
Xin trứng |
44,5% |
51,5% |
32,9% |
|
Chuyển phôi trữ |
30,9% |
25,5% |
16,6% |
(*)SART and ASRM (2004), Fertility and Sterility, 81(5), 1207-1220
(**)EIM and ESHRE (2004), Human Reproduction, 19(3), 490-503t
Đến nay chúng tôi đã chuyển giao kỹ thuật thành công kỹ thuật TTTON cho Bệnh viện Phụ Sản Trung ương (2000), Học viện quân Y (2001), Bệnh viện Phụ Sản quốc tế (2001); hỗ trợ đào tạo nhân sự cho Bệnh viện Hùng Vương (2003). Hiện nay, chúng tôi đang trong quá trình chuyển giao công nghệ cho Bệnh viện đa khoa Đà nẳng và giúp đỡ một số trung tâm khác ở Việt nam chuẩn bị thực hiện TTTON. Bệnh viện Từ Dũ hiện nay là nơi duy nhất có chương trình đào tạo chuyên viên cho các trung tâm TTTON được Bộ Y tế công nhận. Ngoài ra, chúng tôi còn đào tạo cho một số bác sĩ nước ngoài.
Trong chiến lược phát triển các chuyên khoa sâu khác đồng thời với mũi nhọn TTTON, sự phát triển của TTTON đã đồng hành với sự phát triển của hàng loạt kỹ thuật chẩn đoán và điều trị hiện đại khác của bệnh viện như:
- Kỹ thuật nội soi trong Phụ khoa: Bệnh viện Từ Dũ hiện nay thực hiện mỗi năm trên 5.000 trường hợp nội soi phụ khoa, khỏang 50% phẫu thuật phụ khoa tại Bệnh viện Từ Dũ được thực hiện qua nội soi. Ngòai những ứng dụng hỗ trợ cho kỹ thuật TTTON, hầu hết các ứng dụng của nội soi trong chẩn đoán và điều trị phụ khoa đều đã được áp dụng thành công tại Bệnh viện Từ Dũ. Hiện nay, hầu hết các bác sĩ thực hiện kỹ thuật nội soi trong Phụ khoa ở Việt nam đều được đào tạo từ Bệnh viện Từ Dũ. Bệnh viện Từ Dũ là bệnh viện đại diện khu vực Châu Á để tham gia hội thảo truyền hình quốc tế về nội soi trong Phụ khoa.
- Chăm sóc sơ sinh: nhiều kỹ thuật và phương pháp mới đã được ứng dụng, tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh cực non (dưới 1500g) giảm từ 56% ở năm 1997 còn 35% trong năm 2003. Tỉ lệ tử vong sơ sinh liên tục giảm trong những năm qua. Các chương trình như chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng bằng phương pháp Kangaro, vật lý trị liệu cho trẻ sơ sinh đã thành công tại Bệnh viện Từ Dũ và triển khai rộng khắp nhiều trung tâm, bệnh viện trong nước.
- Chẩn đoán di truyền và chẩn đoán tiền sản: Bệnh viện Từ Dũ là bệnh viện đi đầu trong cả nước về chẩn đoán tiền sản với sự phát triển cả về càc kỹ thuật chẩn đoán về hình ảnh, sinh hóa và di truyền, bao gồm các kỹ thuật di truyền tế bào và di truyền phân tử. Đây là chương trình chẩn đoán tiền sản hoàn chỉnh nhất nước hiện nay. Bệnh viện Từ Dũ cũng là đơn vị đầu tiên ở Việt nam xây dựng được Khoa chẩn đoán di truyền (tế bào và phân tử) trong bệnh viện Sản Phụ khoa. Thực hiện gần 2.000 trường hợp chẩn đoán di truyền chẩn đoán tiền sản, giảm tỉ lệ sinh trẻ dị tật. Chương trình đã phát hiện sớm được hàng trăm trường hợp bất thường nhiễm sắc thể, dị tật và ngày càng phát huy thế mạnh trong tầm sóat và chẩn đoán sớm nhiều bệnh lý Phụ khoa.
Với việc xây dựng đồng bộ các chuyên ngành về trang thiết bị cũng như đào tạo nhân sự. Chúng tôi đã tạo được một sự bứt phá mạnh và bền vững về các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ. Việc đầu tư phát triển song song nhiều chuyên ngành quan trọng của Sản Phụ khoa có liên quan đến TTTON và mở rộng các ứng dụng, chúng tôi đã nâng cấp đồng lọat nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Bệnh viện Từ Dũ. Chương trình TTTON và hàng loạt các lãnh vực liên quan trong Sản khoa, Phụ khoa, Nhi khoa phát triển trong những năm qua đã làm thay đổi đáng kể chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản nói chung tại Bệnh viện Từ Dũ. Không chỉ phát triển thành công các dịch vụ y tế kỹ thuật cao, chúng tôi còn đào tạo được một đội ngũ cán bộ y tế trẻ, năng động có phẩm chất đạo đức tốt năm bắt được công nghệ mới để đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền vững cho các chuyên ngành trong tương lai.
Củng cố và phát triển y tế cơ sở
Nhiều chương trình hiệu quả để cải thiện hệ thống y tế cơ sở, đặc biệt trong phạm vi chăm sóc sức khỏe sinh sản, về chuyên môn, trang bị, cơ sở hạ tầng và quản lý đã được Bệnh viện Từ Dũ thực hiện để hỗ trợ củng cố và phát triển y tế cơ sở.
1. Chương trình chỉ đạo tuyến
Chương trình chỉ đạo tuyến được thực hiện liên tục với sự kết hợp đồng bộ của nhiều hình thức và tùy theo nhu cầu của từng địa phương:
- Tổ chức thường xuyên các đợt chỉ đạo tuyến định kỳ hàng tháng đến các tỉnh thành phía Nam để theo dõi, giám sát củng cố các họat động chuyên môn
- Các khóa học, đào tạo về các kỹ thuật mới tại Bệnh viện Từ Dũ: mỗi năm đã đào tạo cho hơn 1 nghìn lượt cán bộ y tế các tỉnh thành phía Nam và cả phía Bắc
- Thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế để phổ biến và cập nhật thông tin cho các bộ y tế tuyến dưới
- Các khóa đào tạo tại chỗ cho các bộ y tế địa phương: triển khai rộng khắp và thu hút được hàng trăm lượt cán bộ y tế cơ sở
- Các đợt cử cán bộ đến địa phương giúp triển khai các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị mới: thực hiện tại nhiều cơ sở y tế phía Nam và đến cả nhiều bệnh viện phía Bắc
- Hỗ trợ tuyến tỉnh trong công tác chỉ đạo tuyến tại địa phương
Các chương trình trên đã đóng góp đáng kể vào việc nâng cấp về kiến thức và kỹ năng cho cán bộ y tế và nâng cao trình độ và năng lực điều trị cho khoa Sản bệnh viện tuyến tỉnh, cải thiện chất lượng các dịch cục chăm sóc sức khỏe tại địa phương, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. Nhờ đó, người dân có thể tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn, hiệu quả hơn tại các bệnh viện tuyến tỉnh mà không phải mất thời gian và chi phí cho khi phải về các bệnh viện tuyến cuối.
2. Xây dựng mạng lưới y tế thôn bản
Năm 1995 Bệnh viện Từ Dũ tiến hành thí điểm chương trình đào tạo dài hạn cho 37 học viên người dân tộc của tỉnh Lâm đồng và Bình thuận. Đến 4/1999, thành công của chương trình này được tiếp tục phát huy với 4 khóa đào tạo dài hạn nữ hộ sinh sơ cấp cho 113 học viên người dân tộc tỉnh Bình Phước. Sau đó Bệnh viện Từ Dũ tiếp tục chương trình theo dõi, hỗ trợ và đào tạo lại cho các học viên này tại trong công tác chăm sóc sức khỏe người dân tại địa phương. Tổng chi phí của chương trình bao gồm cho đào tạo là 515.437.000 đồng và cho hỗ trợ dụng cụ thiết bị cho học viên sau tốt nghiệp là 149.160.000 đồng.
Chương trình này đã hỗ trợ ngành y tế địa phương cải thiện đáng kể hệ thống y tế thôn bản tại các vùng sâu, dân tộc thiểu số. Trong đó, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản được nâng lên rõ rệt. Hiệu quả của chương trình đã được Bộ Y tế và ngành y tế địa phương và dư luận ủng hộ tích cực. Chương trình cũng đang được đầu tư và nghiên cứu để tiếp tục mở rộng cho nhiều địa phương có yêu cầu.
3. Dự án hỗ trợ xây dựng mạng lưới y tế cơ sở cho huyện Bù đăng, tỉnh Bình phước
Dự án bao gồm hàng loạt hoạt động được triển khai đồng bộ:
- Đào tạo chuyên môn cán bộ y tế cơ sở ở Trung tâm y tế huyện, các trạm y tế xã
- Giúp xây dựng, sửa chữa Phòng Sanh, Phòng mổ mới cho TTYT huyện (kinh phí gần 100 triệu đồng)
- Hỗ trợ trang thiết bị cho Phòng mổ và Phòng sanh và các phòng thủ thuật cho TTYT huyện
- Cử bác sĩ và kỹ thuật viên về làm việc tại TTYT huyện dài hạn để hỗ trợ và đào tạo liên tục cán bộ y tế tại chỗ.
- Đào tạo nữ hộ sinh sơ cấp cho người dân tộc huyện Bù Đăng
Với các dự án hỗ trợ toàn diện như trên, chỉ sau vài năm, công tác chăm sóc sức khỏe nói chung và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại huyện Bù đang đã có một bộ mặt hòan tòan khác. Từ chỗ là một đơn vị yếu kém trong hệ thống y tế tỉnh Bình phước, huyện Bù đăng đã trở thành đơn vị dẫn đầu tỉnh về hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân. TTYT Bù đăng hiện trở thành địa chỉ đáng tin cậy không chỉ của nhân dân huyện Bù đăng mà còn của nhân dân trong các huyện lân cận tỉnh Bình phước.
4. Tham gia tích cực trong Chương trình xây dựng các chuẩn mực trong chăm sóc sức khỏe thiết yếu ở huyện Phú tân, An giang
Tổng giá trị dự án là 30.000 đô-la Mỹ, do Bệnh viện Từ Dũ, AUSAID và Trung tâm y tế Phú Tân phối hợp thực hiện. Chương trình bao gồm:
- Nâng cấp kỹ năng phòng ngừa và xử lý hiệu quả các tai biến Sản khoa
- Đào tạo lại kỹ thuật viên xét nghiệm trong các lãnh vực huyết học, vi trùng, xét nghiệm tế bào phát hiện sớm ung thư cổ tử cung
- Đào tạo kỹ năng nghiên cứu khoa học cơ bản cho cán bộ y tế cơ sở
- Bệnh viện Từ Dũ hỗ trợ trong việc thiết kế xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch, vô trùng dùng trong thủ thuật cho tòan bộ các trạm y tế xã.
Với sự hỗ trợ tích cực của Bệnh viện Từ Dũ, sự nỗ lực của cán bộ y tế địa phương và sự giúp đỡ của một số tổ chức khác, TTYT huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã trở thành một trong những mô hình tiêu biểu trong cả nước cho hoạt động của một TTYT huyện.
5. Chương trình phát triển hệ thống tầm soát ung thư CTC cho các tỉnh phía Nam
- Bệnh viện Từ Dũ đã tự đầu tư trang thiết bị và cơ sở để đào tạo liên tục các lớp về phết tế bào âm đạo, soi cổ tử cung cho hàng trăm bác sĩ và kỹ thuật viên xét nghiệm từ các tỉnh thành phía Nam.
- Tư vấn, theo dõi và hỗ trợ các bệnh viện tỉnh, trung tâm BVBMTE-KHHGĐ tỉnh, TTYT huyện xây dựng chương trình phát hiện sớm ung thư CTC
- Nhờ chương trình này, hệ thống tầm soát và phát hiện sớm ung thư CTC đã được triển khai rộng khắp các tỉnh thành phía Nam. Chương trình đã góp phần đáng kể trong việc giảm tỉ lệ tử vong của ung thư cổ tử cung là lọai ung thư phụ nữ hàng đầu ở Việt nam.
6. Một số họat động tiêu biểu khác
- Tổ chức phối hợp cùng cán bộ y tế địa phương khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho hàng chục nghìn lượt người, góp phần đưa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản đến các vùng sâu, vùng xa
- Tham gia dự án hỗ trợ xây dựng, nâng cấp TTYT huyện Hốc môn thành Bệnh viện đa khoa khu vực loại II
Kết luận
Với định hướng là tập trung đẩy mạnh phát triển y tế kỹ thuật cao song song với nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở, trong những năm qua, chúng tôi đã xây dựng Bệnh viện Từ Dũ thành một trung tâm y tế chuyên sâu có uy tín nhất nước trong lãnh vực cung cấp các dịch vụ sức khỏe sinh sản cùng với uy tín chuyên môn trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao, thu hút được nhiều bệnh nhân nước ngoài đến điều trị. Đồng thời, chúng tôi cũng đã góp phần trong việc nâng cấp và phát triển trình độ và năng lực của mạng lưới y tế cơ sở các tỉnh thành phía Nam, đặc biệt trong các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, bên cạnh đó giúp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản đến được với người dân ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số



Hiếm muộn



