Ðánh giá kết quả chương trình thụ tinh trong ống nghiệm-cho trứng đầu tiên ở Việt Nam
Vương Thị Ngọc Lan, Hồ Mạnh Tường, Phạm Việt Thanh,
20/01/2004

Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) với trứng người cho lần đầu tiên trên thế giới thành công vào năm 1983 và đứa bé đầu tiên của kỹ thuật này đã ra đời 1984 tại Monash. Từ đó đến nay, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cho trứng ngày càng phát triển rộng rãi và trở thành một phương pháp điều trị thường qui tại các trung tâm TTTON trên thế giới với tỉ lệ có thai lâm sàng từ 22 - 67% tùy trung tâm.

Đây là một nghiên cứu hồi cứu, được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ thai lâm sàng từ kỹ thuật TTTON-xin trứng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có thai. Trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến 08 năm 2000, có 59 chu kỳ điều trị được tiến hành. Bệnh nhân được kích thích buồng trứng bằng phác đồ down regulation, sử dụng FSH tái tổ hợp. Niêm mạc tử cung của người nhận được chuẩn bị bằng estradiol (đường uống) phối hợp với progesterone (đặt âm đạo). Chuyển phôi được tiến hành hai ngày sau chọc hút trứng, với số phôi chuyển trung bình là 3.7 ( 0.8 phôi. Số liệu được so sánh giữa hai nhóm có thai và không có thai.

Các chỉ định điều trị bao gồm suy buồng trứng sớm (27.1%), đáp ứng kém với kích thích buồng trứng trong các chu kỳ TTTON trước đây (56%) và phụ nữ mãn kinh (16.9%). Tuổi trung bình người nhận là 40 ( 5.3 tuổi. Thời gian vô sinh trung bình là 11.5 ( 5.4 năm. Nồng độ FSH vào ngày 2 vòng kinh là 22.8 ( 24.9 IU/L. tuổi trung bình của người cho là 29.9 ( 4.2 tuổi, thay đổi từ 20 đến 38 tuổi, với nồng độ FSH vào ngày 2 vòng kinh là 4.6 ( 1.3 IU/L. Tỷ lệ thai lâm sàng và thai diễn tiến (trên chu kỳ chuyển phôi) trong nghiên cứu lần lượt là 55.9% và 47.5%.

Tỷ lệ sảy thai và đa thai lần lượt là 6.8% và 25.4%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có thai và không có thai về tuổi người nhận, tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh tuổi người cho giữa hai nhóm (28.8 ( 4.5 so với 31.2 ( 3.6, p = 0/03).

Ngoài ra, tỷ lệ thai diễn tiến cũng cao hơn đáng kể khi tuổi người cho ( 29 so với nhóm phụ nữ từ 30 tuổi trở lên (57.6% so với 42.4%, p < 0.01). Không có mối liên hệ nào giữa tuổi người nhận và độ dày niêm mạc tử cung được tìm thấy. Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có và không có thai về các yếu tố như số trứng chọc hút được, số phôi được hình thành, số phôi có chất lượng tốt cũng như độ dày niêm mạc tử cung vào ngày cho hCG (lần lượt là 14.6 ( 7.1, 11.1 ( 6.3, 4.9 ( 3.2, 11.0 ( 1.7 so với. 10.3 ( 5.2, 6.4 ( 4.1, 2.3 ( 2.5, 8.5  2.7; p < 0.01).

Kết quả nghiên cứu này cho thấy TTTON-cho trứng là một biện pháp điều trị đem lại thành công khá cao cho những phụ nữ vô sinh do dự trữ buồng trứng giảm. Sự đáp ứng của niêm mạc tử cung với nội tiết ngoại sinh sử dụng trong nghiên cứu có vẻ không phụ thuộc tuổi người nhận. Bên cạnh tuổi người cho, độ dày niêm mạc tử cung, số trứng chọc hút được và số phôi có chất lượng tốt có thể được xem là các yếu tố tiên lượng tỷ lệ thành công của chương trình TTTON-cho trứng.