Những nghiên cứu gần đây cho thấy từ 10-15% các cặp vợ chồng trong tuổi sinh sản có vấn đề về hiếm muộn, trong đó, tỉ lệ vô sinh do nam chiếm từ 30-40%. Nhiều nghiên cứu trên thế giới báo cáo chất lượng tinh trùng nam giới ngày càng giảm. Bất thường tinh dịch đồ, đặc biệt là các trường hợp thiểu tinh nặng và không có tinh trùng có thể phản ánh một tình trạng bệnh lý. Do đó việc khám và điều trị vô sinh nam là hết sức cần thiết trong công tác điều trị hiếm muộn.
Các bước thăm khám vô sinh nam:
1. Hỏi bệnh sử:
Rất cần thiết vì nó góp phần cho chẩn đoán 25% các trường hợp vô sinh. Bệnh sử cần khai thác bao gồm:
- Tiểu đường và bệnh lý thuộc hệ thần kinh có thể gây bất lực và rối loạn xuất tinh.
- Bệnh lao có thể gây viêm mào tinh, tiền liệt tuyến từ đó làm giảm sự vận chuyển tinh trùng. Bệnh viêm xoang mãn, viêm phế quản mãn đôi khi liên quan đến một số bệnh lý bẩm sinh bất thường làm tinh trùng bất động hay gây bất sản ống dẫn tinh.
- Sốt: sốt quá 38,5o có thể cản trở quá trình sinh tinh trong khoảng thời gian tới 6 tháng (theo WHO 1987). Những dữ kiện gần đây cho thấy sốt có thể gây tổn hại DNA của tinh trùng.
- Tiền căn dùng thuốc: một số thuốc chữa bệnh có thể gây tổn hại tạm thời hay vĩnh viễn quá trình sinh tinh như hóa trị ung thư, hormon, cimetidin, sulphasalazine, spironolactone …
- Tiền căn phẫu thuật: có thể có sự suy giảm tạm thời khả năng sinh tinh sau phẫu thuật từ 3 – 6 tháng, đặc biệt trong phẫu thuật có gây mê. Sinh thiết tinh hoàn có thể gây nên tình trạng ức chế sự sinh tinh tạm thời. Phẫu thuật van niệu đạo, tiền liệt tuyến, cổ bàng quang có thể gây xuất tinh ngược dòng. Phẫu thuật thoát vị có thể làm tổn thương ống dẫn tinh. Phẫu thuật tràn dịch tinh mạc hay trên bộ phận sinh dục có thể gây phản ứng miễn dịch tạo kháng thể kháng tinh trùng.
- Nhiễm trùng tiểu: bí tiểu, tiểu máu, tiểu máu có thể liên quan đến sự nhiễm trùng các tuyến sinh dục phụ và làm giảm chất lượng tinh trùng.
- STDs: đặc biệt chú trọng về tiền căn bệnh giang mai, lậu, Chamydia trachomatis.
- Quai bị: quai bị sau dậy thì, có thể gây viêm teo tinh hoàn.
- Chấn thương tinh hoàn: có thể làm teo tinh hoàn hoặc làm thiếu máu nuôi tinh hoàn và tạo kháng thể kháng tinh trùng đều có thể gây vô sinh.
- Các yếu tố nghề nghiệp và thói quen sinh hoạt: như làm việc trong môi trường nóng, tiếp xúc với hóa chất độc như chì, thủy ngân, thuốc trừ sâu, rượu, thuốc lá cũng làm giảm khả năng sinh tinh, gây vô sinh.
2. Khám lâm sàng:
- Khám tổng quát:
Bất thường về chỉ số chiều cao-cân nặng (BMI 30 kg/m) có thể liên quan đến giảm thể tích tinh hoàn và suy giảm khả năng sinh tinh (WHO 1987).
Chiều dài các chi bất thường mất cân đối so với thân mình giúp nhận ra hội chứng Klinefelter. Dấu hiệu kém phát triển các đặc tính sinh dục thứ phát cho thấy suy vùng dưới đồi.
- Phát hiện vú to ở nam: Ngực bệnh nhân phải được sờ nắn xem có sự hiện diện của mô tuyến vú hay không. Tư thế tốt nhất là bệnh nhân giơ 2 tay lên đầu duỗi thẳng ngực ra. Vú to ở nam có thể là tình trạng quá mức estrogen nội sinh hay ngoại sinh hay dùng các loại thuốc như digitalis, spironolactone, và cũng là một đặc điểm của hội chứng Klinerfelter.
- Khám dương vật: có thể phát hiện lỗ tiểu đóng thấp, lỗ tiểu lệch trên, hẹp quy đầu, chấn thương dương vật có thể gây xuất tinh bất thường hoặc tinh dịch không vào được âm đạo.
- Khám 2 tinh hoàn: Vị trí của tinh hoàn được xác định tốt nhất khi bệnh nhân đứng. Cả 2 tinh hoàn phải được sờ nắn thấy và nằm thấp trong bìu. Tinh hoàn lạc chỗ: tinh hoàn nằm trong ống bẹn, ở cổ bìu, vùng mu, trong ổ bụng.
- Đo thể tích tinh hoàn: đo thể tích tinh hoàn bằng thước Prader hay đo trên siêu âm. Thể tích tinh hoàn bình thường là 12-30ml. Tinh hoàn nhỏ cho thấy sự thiếu hụt ống sinh tinh. Tinh hoàn nhỏ < 3ml, chắc là đặc trưng của hội chứng Klinerfelter. Tinh hoàn nhỏ trong khoảng 5-12ml, mềm, gợi ý suy sinh dục – suy vùng dưới đồi. Tinh hoàn cứng chắc, thể tích bình thường hay lớn có thể là ung thư tinh hoàn. Người có tinh hoàn thể tích và mật độ bình thường mà không có tinh trùng có thể là do tắc nghẽn.
- Khám mào tinh: Mào tinh bình thường vừa đủ để sờ thấy là một cơ quan mềm ở trên và sau tinh hoàn. Nếu sờ thấy một khối sưng phồng có thể do tắc nghẽn ở đoạn xa. Sưng đau ở mào tinh có thể là viêm cấp hay mãn mào tinh.
- Khám ống dẫn tinh: Bình thường ống dẫn tinh sờ giữa 2 ngón tay cảm giác như 1 dây thừng mỏng, chắc.
- Dãn tĩnh mạch thừng tinh: khám ở tư thế đứng, phân làm 3 độ.
Độ III: khi đám rối tĩnh mạch căng phồng lộ ra khỏi da bìu và sờ thấy dễ dàng.
Độ II: khi tĩnh mạch trong bìu căng phồng dễ dàng sờ thấy nhưng không rõ lắm.
Độ I: khi không rõ ràng hoặc không sờ thấy sự căng phồng tĩnh mạch nếu bệnh nhân không làm nghiệm pháp Valsalva.
Cũng có khi chỉ nhờ siêu âm doppler mới phát hiện dãn tĩnh mạch thừng tinh.
3. Các xét nghiệm cận lâm sàng:
- Xét nghiệm nội tiết: FSH, testosterone
- Siêu âm trực tràng (TRUS): phát hiện tắc nghẽn, bất sản túi tinh, ống dẫn tinh …
- Siêu âm doppler: đo kích thước tinh hoàn và phát hiện các bất thường ở tinh hoàn như khối u tinh hoàn, viêm mào tinh, tràn dịch tinh mạc, dãn tĩnh mạch thừng tinh …
Kết luận:
Thăm khám vô sinh nam là giúp tìm hiểu nguyên nhân gây vô sinh nam để có biện pháp điều trị thích hợp. Ngoài ra, có thể giúp phát hiện các bệnh lý đi kèm để điều trị sớm.
Tài liệu tham khảo
WHO manual for the standardized investigation, diagnosis and management of the infertile male. Cambridge University Press, 2000.



Hiếm muộn



