ICSI với tinh trùng lấy từ mào tinh
BS. Hồ Mạnh Tường

Có nhiều nguyên nhân làm tắc nghẽn đường dẫn tinh và gây vô sinh do không có tinh trùng. Trong đa số các trường hợp, tinh hoàn vẫn sinh tinh bình thường, tuy nhiên do đường dẫn tinh bị tắc, nên tinh trùng không thể ra được bên ngoài và dẫn đến vô sinh.

Một số nguyên nhân thường gặp của không có tinh trùng do tắc:

+ Bất sản ống dẫn tinh bẩm sinh
+ Tắc đường dẫn tinh sau nhiễm trùng đường tiết niệu, sinh dục
+ Tắc đường dẫn tinh sau chấn thương, phẫu thuật ở cơ quan sinh dục
+ Sau thủ thuật thắt ống dẫn tinh triệt sản …

Đối với một số trường hợp, người ta có thể thực hiện vi phẫu thông nối đường dẫn tinh để điều trị. Đối với những trường hợp không thể thực hiện vi phẫu hay tiên lượng thành công với vi phẫu thấp hoặc vi phẫu thất bại, cần phải sinh thiết tinh trùng và thực hiện ICSI với tinh trùng lấy được. Sau đó thực hiện chuyển phôi vào buồng tử cung của người vợ. Tỉ lệ thành công của phương pháp này trên thế giới hiện nay tương đương với kết quả của kỹ thuật ICSI bình thường với tinh trùng từ tinh dịch (khoảng 30-35%).

• Từ đầu năm 2002, Khoa Hiếm muộn Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã phối hợp với Phòng khám Nam khoa Bệnh viện Bình Dân để triển khai kỹ thuật ICSI với tinh trùng hút từ mào tinh cho những trường hợp vô sinh nam không có tinh trùng do tắc. Đây là lần đầu tiên kỹ thuật điều trị này được thực hiện ở Việt Nam. Trường hợp hút tinh trùng từ phẫu và chọc hút noãn từ vợ để thực hiện ICSI được thực hiện đầu tiên vào ngày 04/03/2002.
• Từ tháng 3/2002 đến 8/2002, có 24 trường hợp đã được thực hiện kỹ thuật trên. Tuổi trung bình của người vợ là 29,4 (thấp nhất 24, cao nhất 34). Tất cả 24 trường hợp đều lấy được tinh trùng. 12 trường hợp tinh trùng chất lượng tốt đã được trữ lạnh. Sau khi thực hiện ICSI, cả 24 trường hợp đều có hiện tượng thụ tinh noãn, tạo được phôi và chuyển phôi vào buồng tử cung. Trong đó, có 4 trường hợp còn phôi dư với chất lượng tốt được thực hiện trữ lạnh phôi để có thể sử dụng về sau.
• Đến 9/2002, 24 trường hợp trên đã đến ngày thử thai và siêu âm thai sau khi thử thai dương tính. Kết quả đã có 13/24 (54,2%) trường hợp thử thai ((-hCG) dương tính. Trong đó có 10 trường hợp đã siêu âm thấy túi thai và tim thai trên siêu âm. Tỉ lệ thai lâm sàng là 50% (12/24). Trong đó, có 9 trường hợp 1 thai, 3 trường hợp song thai, không có trường hợp nào 3 thai trở lên. Trường hợp có thai đầu tiên là song thai đến nay đã được 28 tuần (đầu tháng 9).

Số chu kỳ

 Tổng số 

Tỉ lệ %

Chuyển phôi tươi
Trữ phôi
Chuyển phôi trữ
hCG (+)
Thai lâm sàng
Trữ tinh trùng

24
04
02 (chưa có KQ)
13
12
12

24
24
-
24
24
24

100%
16,7%

54,2%
50%
50%










Mặc dù chỉ mới trong bước đầu triển khai, các kết quả ban đầu của chương trình là rất khả quan. Các yếu tố thuận lợi của chương trình là:
+ Sự phối hợp hiệu quả của 2 trung tâm chuyên khoa đầu ngành ở TPHCM
+ Quá trình chuẩn bị chu đáo
+ Đa số các bệnh nhân trẻ tuổi, chất lượng noãn và phôi tốt
Các phác đồ điều trị đang từng bước được cải thiện và đi vào ổn định. Chúng tôi hy vọng trong thời gian tới sẽ triển khai rộng rãi kỹ thuật để phục vụ bệnh nhân và phổ biến kinh nghiệm thực hiện cho các đơn vị khác trong cả nước.

Tài liệu tham khảo
Cochrane review, 2001 (4)

Phác đồ thực hiện ICSI với tinh trùng lấy từ mào tinh
+ Hội chẩn xác định có thể lấy tinh trùng từ mào tinh từ chồng và có thể thực hiện kích thích buồng trứng, chọc hút trứng và chuyển phôi cho người vợ.
+ Bổ sung hồ sơ, xét nghiệm. Hẹn tháng thực hiện kỹ thuật điều trị.
+ Khám tiền mê trước thủ thuật
+Kích thích buồng trứng và theo dõi. Quyết định thời điểm chọc hút
+ Chọc hút trứng cho người vợ
+ Mổ lấy tinh trùng tại Phòng TTTON vào cùng ngày chọc hút trứng
+ Xử lý dịch hút được từ mào tinh để chuẩn bị tinh trùng
+ Thực hiện kỹ thuật ICSI
+ Chuyển phôi vào buồng tử cung 2 ngày sau
+ Thử máu 2 tuần sau chuyển phôi
+ Siêu âm xác định thai 2-3 tuần sau khi thử máu dương tính