GnRH antagonist: Hướng đi mới trong kích thích buồng trứng
BS. Vương Thị Ngọc Lan

Từ nhiều năm nay, GnRH agonist (Buserelin, Triptorelin) được sử dụng theo phác đồ dài đã được áp dụng một cách rộng rãi ở hầu hết các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm trên thế giới và có một vai trò quan trọng làm giảm sự xuất hiện đỉnh LH sớm, tạo sự phát triển đồng bộ của các nang noãn, số noãn trưởng thành thu được nhiều và do đó, tỉ lệ có thai cao hơn. Tuy nhiên, sự sử dụng GnRH agonist không phải là không có những bất lợi. Phác đồ dài sử dụng GnRH agonist đã cho thấy muốn có hiệu quả làm trơ hóa tuyến yên và giảm các thụ thể, GnRH agonist phải được sử dụng trong 2-3 tuần. Đồng thời do ức chế gần như toàn bộ nội tiết nội sinh, số thuốc sử dụng để kích thích buồng trứng cũng tăng dẫn đến tăng chi phí để kích thích buồng trứng.

GnRH agonist ra đời và được đưa vào sử dụng từ 1998. Ngược lại với GnRH agonist, GnRH antagonist có tác dụng ức chế tuyến yên ngay, làm giảm nồng độ LH, FSH nội sinh trong vòng vài giờ sau sử dụng. Do đó, có thể áp dụng phòng ngừa đỉnh LH sớm mà không cần phải cho trong thời gian dài. Ở một số nước trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành và ghi nhận chất lượng noãn, tỉ lệ thụ tinh của noãn, chất lượng phôi, tỉ lệ làm tổ và tỉ lệ có thai khá tốt với sử dụng GnRH antagonist.

Các đặc điểm khác nhau về cơ chế tác động của GnRH antagonist và GnRH agonist:

• GnRH antagonist GnRH agonist
+ Ức chế thụ thể mà không hoạt hóa
+ Ức chế cạnh tranh
+ Ức chế ngay lập tức và phụ thuộc liều sử dụng
+ Hồi phục nhanh sau khi ngưng thuốc (trong vòng 2 ngày đối với loại tác dụng ngắn 0,25mg)

• GnRH agonist
+ Điều hòa giảm thụ thể
+ Trơ hóa tuyến yên
+ Tác dụng hoạt hóa khởi đầu
+ Hồi phục chậm sau ngưng thuốc (trung bình 2 tuần, tối đa là 6 tuần)

Có 2 loại GnRH antagonist đang được lưu hành trên thị trường, đó là ganirelix (Antagon, Orgalutran 0,25mg, Organon) và Cetrorelix (Cetrotide 0,25mg, Cetrotide 3mg, Serono).

Chỉ định và ưu điểm của GnRH antagonist
Trong kích thích buồng trứng để thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, GnRH antagonist được sử dụng để phòng ngừa sự xuất hiện của đỉnh LH sớm.

Các ưu điểm của GnRH antagonist so với GnRH agonist
+ Có tác dụng ức chế ngay đỉnh LH sớm trong vòng vài giờ sau tiêm thuốc (6 – 8 giờ), trong khi với GnRH agonist cần 2 – 3 tuần.
+ Ở ngày tiêm hCG, số nang noãn kích thước nhỏ và trung bình ít hơn so với phác đồ dài GnRH agonist, do đó, giảm nguy cơ quá kích buồng trứng.
+ Trong những trường hợp có nguy cơ quá kích buồng trứng nặng, với phác đồ sử dụng GnRH antagonist, có thể sử dụng GnRH agonist mà không cần tiêm hCG để gây tác dụng trưởng thành noãn và phóng noãn.
+ Thời gian điều trị ngắn hơn so với phác đồ dài của GnRH agonist khoảng 2 – 3 tuần, do đó, thuận tiện hơn cho bệnh nhân nhất là những bệnh nhân nhà xa.
+ Thời gian cần kích thích buồng trứng với FSH tái tổ hợp ngắn hơn phác đồ dài của GnRH agonist từ 1 – 2 ngày, do đó, giảm được chi phí sử dụng FSH tái tổ hợp.
+ Với GnRH antagonist, chương trình TTTON khó chủ động sắp xếp bệnh nhân hơn, sự thuận tiện của bác sĩ ít hơn nhưng sự thuận tiện của bệnh nhân lại tối đa.
+ Theo một số báo cáo, phác đồ kích thích buồng trứng sử dụng ở những bệnh nhân lớn tuổi có thể làm tăng đáp ứng của buồng trứng và giảm tỉ lệ ngưng điều trị.

Sử dụng GnRH antagonist tại Khoa Hiếm muộn, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ
Với những ưu điểm như trên của phác đồ kích thích buồng trứng sử dụng GnRH antagonist, Khoa Hiếm muộn, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã nghiên cứu đưa vào sử dụng cho bệnh nhân từ tháng 4/2002. Hiện nay, tỉ lệ có thai lâm sàng đạt được tương đương với phác đồ dài GnRH agonist cổ điển.

Trường hợp đầu tiên có thai với phác đồ kích thích buồng trứng sử dụng GnRH antagonist đến nay đã được 16 tuần. Chúng tôi hy vọng có thể báo cáo kết quả của chương trình trong thời gian tới. Với thành công bước đầu này, chúng tôi sẽ cố gắng triển khai rộng rãi phác đồ mới góp phần nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân đồng thời phổ biến kinh nghiệm đến các đơn vị trong cả nước.

Tài liệu tham khảo
1. Human Reproduction 17(4); 2002: 874-885
2. Human Reproduction 15(7); 2000: 1490-1498
3. Human Reproduction Update 6(4); 2000: 318-321