Chuẩn bị nội mạc tử cung để chuyển phôi trữ lạnh
BS. Vương Thị Ngọc Lan

Chuẩn bị nội mạc tử cung được xem là một khâu quan trọng trong qui trình chuyển phôi trữ lạnh. Đây là một kỹ thuật sử dụng nội tiết ngoại sinh hay theo dõi sự thay đổi nội tiết nội sinh của cơ thể để tạo được sự chấp nhận của nội mạc tử cung đối với phôi trữ lạnh sau khi được rã đông và chuyển vào buồng tử cung.

Không phải ở bất kỳ thời điểm nào, phôi cũng có thể bám dính và phát triển tại nội mạc tử cung, ngoại trừ ở một giai đoạn ngắn có sự chấp nhận của nội mạc tử cung hay còn gọi là “cửa sổ làm tổ” của phôi. Các nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhằm tìm ra thời điểm bắt đầu, độ dài và các yếu tố báo hiệu “cửa sổ làm tổ” của phôi. Đa số các nghiên cứu đều sử dụng thời điểm bắt đầu có sự sản xuất hay sử dụng progesterone làm mốc để tính thời điểm “cửa sổ làm tổ” và độ dài của cửa sổ này thay đổi khoảng 48-84 giờ. Một số nghiên cứu cho rằng, các phác đồ kích thích buồng trứng có sử dụng kết hợp GnRH agonist và hMG/FSH làm tăng độ dài của cửa sổ làm tổ của phôi. Sự chấp nhận của nội mạc tử cung đòi hỏi phải có sự hiện diện của estradiol và progesterone với một tỉ lệ thích hợp trong giai đoạn “cửa sổ làm tổ” của phôi, tỉ lệ này dao động từ 7,63 – 12,22 (E2: pmol/l; P4: nmol/l). Do đó, xác định “cửa sổ chuyển phôi” để trùng vào thời điểm “cửa sổ làm tổ” của phôi vào nội mạc tử cung là mấu chốt của kỹ thuật chuẩn bị nội mạc tử cung.

Có nhiều phương pháp để chuẩn bị nội mạc tử cung trong một chu kỳ chuyển phôi trữ lạnh, trong đó, có 3 phương pháp chính:

(1) Chu kỳ tự nhiên
Phương pháp này không cần sử dụng nội tiết ngoại sinh để chuẩn bị nội mạc tử cung, thường được áp dụng cho những bệnh nhân trẻ tuổi, có phóng noãn đều đặn và có điều kiện theo dõi nội tiết và siêu âm mỗi ngày. Bệnh nhân được định lượng LH trong máu hay trong nước tiểu mỗi ngày để ước tính thời điểm rụng trứng. Từ đó, ước tính thời điểm chuyển phôi.

Phương pháp này tiết kiệm được chi phí sử dụng thuốc để chuẩn bị nội mạc tử cung, tuy nhiên, đối tượng áp dụng được chu kỳ tự nhiên là rất ít vì tốn thời gian, phiền hà do cần phải được theo dõi sát mỗi ngày và quan trọng là kết quả định lượng nội tiết phải chính xác, ổn định và có kết quả ngay.

(2) Sử dụng nội tiết ngoại sinh để chuẩn bị nội mạc tử cung
Phương pháp này sử dụng kết hợp estradiol và progesterone để chuẩn bị nội mạc tử cung, cách này thường thuận tiện cho cả bệnh nhân và bác sĩ do không cần phải theo dõi thường xuyên và chi phí cũng không cao.

Liều estradiol trong pha nang noãn được sử dụng có thể thay đổi cho giống với chu kỳ tự nhiên hay liều được giữ cố định suốt pha nang noãn với tỉ lệ thai lâm sàng không khác nhau. Thời gian sử dụng estradiol thông thường là 10-12 ngày để tạo điều kiện cho nội mạc tử cung được tiếp nhận và phát triển đầy đủ với estradiol, tuy nhiên, theo một số nghiên cứu, thời gian này có thể thay đổi từ 5-35 ngày mà kết quả vẫn không thay đổi. Progesterone có thể được sử dụng đường đặt âm đạo hay đường tiêm bắp. Đôi khi, một số bệnh nhân có hiện tượng xuất huyết tử cung chức năng ở giữa chu kỳ nếu chỉ sử dụng estradiol và progesterone như trên. Trong trường hợp này, cần sử dụng phối hợp GnRH agonist để gây tác dụng down regulation trước khi sử dụng nội tiết. Nội mạc tử cung được đánh giá qua siêu âm đầu dò âm đạo. Để đánh giá sự đáp ứng của nội mạc tử cung và thăm dò liều nội tiết sử dụng cho từng bệnh nhân, có thể thực hiện chu kỳ sử dụng nội tiết thử nghiệm để chuẩn bị tốt hơn cho chu kỳ chuyển phôi thật sự. Chuyển phôi trữ được thực hiện sau sử dụng progesterone 2-3 ngày.

(3) Kích thích buồng trứng để chuẩn bị nội mạc tử cung
Phương pháp này được thực hiện bằng cách sử dụng thuốc kích thích buồng trứng để tạo sự phát triển nang noãn và phóng noãn, từ đó, nội mạc tử cung được chuẩn bị bằng estradiol và progesterone do quá trình phát triển nang noãn tạo thành. Chuyển phôi trữ sẽ được tiến hành vào thời điểm như một trường hợp chuyển phôi sau thụ tinh trong ống nghiệm thông thường. Phương pháp này có chi phí cao và có thể có các biến chứng của kích thích buồng trứng nên ít khi được sử dụng. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu cho thấy nồng độ cao của estradiol trong pha hoàng thể, phá vỡ tỉ lệ thích hợp của estradiol và progesterone sẽ làm giảm sự chấp nhận của nội mạc tử cung và tỉ lệ có thai thấp. Tuy nhiên, với các nhà lâm sàng chưa có kinh nghiệm theo dõi sự thay đổi nội tiết nội sinh dẫn đến bỏ qua giai đoạn “cửa sổ chuyển phôi” và sử dụng nội tiết ngoại sinh chuẩn bị nội mạc tử cung dẫn đến xuất huyết tử cung chức năng, phương pháp này sẽ dễ dàng hơn cho việc chuẩn bị nội mạc tử cung và xác định thời điểm chuyển phôi trữ.

Tóm lại, kỹ thuật chuẩn bị nội mạc tử cung kết hợp với kỹ thuật trữ lạnh và rã đông phôi tốt sẽ đưa đến tỉ lệ thai lâm sàng của chuyển phôi đông lạnh khá cao, tăng cơ hội có thai của một chu kỳ kích thích buồng trứng làm thụ tinh trong ống nghiệm cho bệnh nhân.

Tài liệu tham khảo
Handbook of Invitrof ertilization
CRC Press, Washing DC, USA, 2000: 499 – 528