Thụ tinh trong ống nghiệm thế giới 25 năm
BS. Hồ Mạnh Tường

Hai mươi lăm năm trước, tại một bệnh viện nhỏ, miền Bắc nước Anh, đứa bé TTTON đầu tiên trên thế giới đã ra đời. Louise Brown được gọi là đứa bé “ống nghiệm” đầu tiên. Ngày sinh của cô 25 tháng 7 năm 1978 đã trở thành biểu tượng của niềm hy vọng của hàng triệu cặp vợ chồng hiếm muộn. Năm 2003 này, sinh nhật lần thứ 25 của Louise Brown là một cột mốc cho chúng ta nhìn lại sự phát triển của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong 25 năm qua.

Vào năm 1978, nếu sự ra đời của Louise Brown được giới khoa học và báo chí thời đó đánh giá là “điều kỳ diệu”, thì đến nay, trên thế giới mỗi năm có gần nửa triệu trường hợp TTTON được thực hiện và hơn 100.000 em bé chào đời từ kỹ thuật này mỗi năm. Tổng số em bé TTTON ra đời trên thế giới cho đến nay đã vượt qua con số 1,1 triệu và con số này đang tăng ngày càng nhanh.

Tháng 5 năm 1999, một sự kiện khác xảy ra đã trở thành một cột mốc đáng ghi nhớ khác của lịch sử phát triển các KTHTSS. Natalie Brown, người phụ nữ đầu tiên được sinh ra bằng kỹ thuật TTTON, đã có con của chính mình một cách tự nhiên. Robert Edwards, cha đẻ của kỹ thuật TTTON đã nói: “ Chúng ta đang chứng kiến thế hệ thứ hai của TTTON – khi mà những đứa trẻ TTTON ngày nào đang trở thành những ông bố và bà mẹ”. Natalie Brown cũng chính là em ruột của Louise Brown.

Với sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật này, các nhà quản lý y tế và cộng đồng ngày càng nhận thức rõ hơn về vấn đề vô sinh, một vấn đề có thể có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc, cuộc sống của từng cá nhân và gia đình trong xã hội. Hiện nay, ở nhiều nước phát triển trên thế giới, chi phí điều trị vô sinh được sự hỗ trợ của quĩ phúc lợi xã hội.

Ngoài sự phát triển về số lượng, 25 năm qua khoa học đã nhìn nhận sự phát triển mạnh mẽ của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong điều trị vô sinh. Đến đầu thế kỷ thứ 21, các KTHTSS đã thành công ở hầu hết các nguyên nhân gây vô sinh, đặc biệt là vô sinh do nam giới, vấn đề mà hơn 10 năm trước đây vẫn là bài toán nan giải cho y học.

Thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt nam – 6 năm

Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Giám đốc Bệnh viện Phụ Sản, là người đầu tiên chủ trương việc thực hiện TTTON tại Việt nam. Do điều kiện khó khăn về kinh phí và trình độ phát triển của ngành y tế nước nhà, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã mất gần 10 năm để đầu tư và chuẩn bị cơ sở vật chất. Với tinh thần khoa học, sự kiên trì và tâm huyết của những cán bộ lãnh đạo đầu đàn, kết hợp sự chuẩn bị nghiêm túc về khoa học, kỹ thuật, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã thực hiện một bước đột phá trong ngành Sản Phụ khoa Việt nam khi tiến hành thực hiện những trường hợp TTTON đầu tiên ở Việt nam vào tháng 8 năm 1997.

Vào thời điểm đó, mặc dù TTTON đã được thực hiện gần 20 năm và đã trở thành kỹ thuật điều trị phổ biến trên thế giới, tại Việt nam sự ra đời của TTTON cũng đã gặp không ít trở ngại từ dư luận trong và ngoài ngành y tế. Sự dũng cảm và thái độ làm việc khoa học và nghiêm túc một lần nữa đã giúp cho bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng và các đồng nghiệp vượt qua khó khăn và thành công ngay những trường hợp đầu tiên thực hiện. Ngày 30 tháng 4 năm 1998, 03 em bé đầu tiên từ kỹ thuật TTTON đã chào đời. Trong lịch sử phát triển của kỹ thuật HTSS, hình như chưa ở đâu lại may mắn thành công với 3 trường hợp cùng một lúc, từ những bước chập chững đầu tiên!

Cũng vào thời điểm đó, không ai có thể nghĩ rằng chỉ 5 năm sau đó, ở Việt nam đã có 5 trung tâm TTTON ra đời với hơn 1000 em bé đã sanh ra và hàng trăm bà mẹ đang chờ ngày nở nhụy, khai hoa, cho ra đời những đứa bé kháu khỉnh. Vào năm 2003 này, Việt nam đã thành công ở hầu như tất cả các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cao cấp và đạt tỉ lệ thành công tương đương với khu vực và các nước trên thế giới. Các đồng nghiệp trong khu vực và trên thế giới đều ghi nhận và thán phục sự phát triển vượt bậc của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở Việt nam.

Tháng 7/2003, đứa bé TTTON đầu tiên trên thế giới tròn 25 tuổi. Tháng 8/2003, Chương trình TTTON của Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ cũng tròn 6 tuổi. Vẫn còn đó những tranh luận về TTTON, về các kỹ thuật HTSS, nhưng không ai phủ nhận được những niềm vui, hạnh phúc, hy vọng mà kỹ thuật này đã mang lại cho biết bao cặp vợ chồng, biết bao gia đình khát khao được nghe một tiếng khóc, tiếng cười trẻ thơ; cũng không ai có thể phủ nhận được những thành tựu, những phát kiến khoa học mà sự phát triển của các kỹ thuật HTSS đã đóng góp cho kho tàng tri thức chung của nhân loại.

Tài liệu tham khảo

1. Celebrating 25 years of IVF - Organon
2. Life magazine, Issue 8, Dec, 2002
3. Vô sinh – Các vấn đề mới, Nhà xuất bản Y học, 2003
--------------------------------------------------------------------------------

Louise Brown, đứa bé TTTON đầu tiên trên thế giới đã ra đời như thế nào?

Ngày giờ sinh

• 23 giờ 57 phút, ngày 25 tháng 7 năm 1978

Nơi sinh

• Bệnh viện Kershaw, ở Oldham, một bệnh viện nhỏ ở miền Bắc nước Anh

Bệnh sử

 Tháng 2/1977, bà Lesley Brown đã đến bệnh viện để thực hiện phẫu thuật nội soi vòi trứng. Vòi trứng của bà bị tổn thương nặng và cố gắng của bác sĩ phụ khoa đã thất bại. Bà vẫn không thể có con sau khi mổ nội soi thông vòi trứng.
• Hai vợ chồng bà đã đồng ý tham gia chương trình của bác sĩ Steptoe và giáo sư Edwards.

Thụ tinh trong ống nghiệm

• Việc TTTON nghiệm do Giáo sư Robert Edwards thực hiện và bác sĩ Patrick Steptoe đã thực hiện chọc hút trứng bằng kỹ thuật nội soi.
• Chọc hút trứng được thực hiện vào ngày 10 tháng 11 năm 1977. Thụ tinh trong ống nghiệm được tiến hành và kết quả là bé Louise Brown.

Hậu trường” của lịch sử 
• Thụ tinh trong ống nghiệm được thực hiện thành công trên động vật (thỏ) đầu tiên vào đâu thập niên 60. Sau đó TTTON đã được nghiên cứu thực nghiệm nhiều năm trên động vật, chủ yếu là chuột, trước khi thực hiện trên người.
• Trước Lesley Brown, Giáo sư Edwards và bác sĩ Steptoe đã thực hiện chuyển phôi cho 102 trường hợp khác, nhưng thất bại. Trong các trường hợp này, có 2 trường hợp có thai, 1 trường hợp thai ngoài tử cung và 1 trường hợp sẩy thai tự nhiên.
• Ê-kíp của Giáo sư Edwards và Bác sĩ Steptoe đã phải làm việc và nghiên cứu dưới áp lực và công kích nặng nề của giới báo chí, dư luận, tôn giáo và không ít nhà khoa học nổi tiếng thời đó trong vòng nhiều năm trước khi đạt thành công. Đến ngày nay, TTTON đã được công nhận và áp dụng trên toàn thế giới.
• Với những gian nan, cố gắng, những đêm mất ngủ cùng với sự kiên trì và dũng cảm trong khoa học trước những thất bại ban đầu và sự công kích của dư luận, Giáo sư Edwards có thể được xem là người cha tinh thần của hàng triệu em bé TTTON ngày nay.