Hiệu quả của GANIRELIX trong kích thích buồng trứng làm thụ tinh trong ống nghiệm
BS. Vương Thị Ngọc Lan

Từ những năm 1980, GnRH agonist đã được đưa vào sử dụng trong các phác đồ kích thích buồng trứng để thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Phác đồ dài được áp dụng rộng rãi trên thế giới, với sự sử dụng GnRH agonist trong 10 – 14 ngày liên tục, sau đó kết hợp với FSH tái tổ hợp trong tiếp tục khoảng 14 ngày nữa đã có hiệu quả đến 99% trong phòng ngừa đỉnh LH nội sinh sớm, giúp thu được nhiều noãn trưởng thành có chất lượng tốt và tăng tỉ lệ có thai hơn so với không sử dụng GnRH agonist (25,2% so với 22,7%, Felberbaum RE và cs., 2002). Tuy nhiên, phác đồ dài cũng có một vài bất lợi như:
- Có sự gia tăng nồng độ gonadotrophins trước khi đạt được hiệu quả làm giảm LH nội sinh, do đó, có thể có sự hình thành nang chức năng sau sử dụng GnRH agonist.
- Cần sử dụng tăng liều FSH tái tổ hợp để đạt được số nang noãn trưởng thành mong muốn
- Thời gian tiêm thuốc dài (khoảng 4 tuần)
- Gia tăng nguy cơ quá kích buồng trứng

Để khắc phục những bất lợi của GnRH agonist mà vẫn có hiệu quả ngăn ngừa đỉnh LH nội sinh sớm, GnRH antagonist đã được đưa vào nghiên cứu và sử dụng. Đứa bé đầu tiên được sinh ra sau sử dụng GnRH antagonist đã được báo cáo ở Đức vào tháng 12/1993. Từ năm 2000, GnRH antagonist đã bắt đầu được đưa vào sử dụng rộng rãi trong kích thích buồng trứng để làm thụ tinh trong ống nghiệm.

- Dựa trên cơ sở đó, từ tháng 12/2002 đến tháng 3/2003, chúng tôi đã bắt đầu đưa Ganirelix (GnRH antagonist) vào sử dụng trên một số bệnh nhân, thay thế phác đồ dài sử dụng GnRH agonist nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí cho một trường hợp làm thụ tinh trong ống nghiệm. Chúng tôi thực hiện so sánh với một nhóm bệnh nhân sử dụng phác đồ dài để so sánh (chọn ngẫu nhiên).

Phác đồ sử dụng thuốc
Nhóm sử dụng Orgalutran (GnRH antagonist)











Nhóm sử dụng Buserelin (phác đồ dài)










Kết quả
Bảng 1. So sánh giữa 2 nhóm về số chu kỳ thực hiện 





Bảng 2. So sánh giữa 2 nhóm về thời gian và số thuốc kích thích buồng trứng phải sử dụng.
 





Bảng 3. So sánh giữa Bảng 3. So sánh giữa 2 nhóm về kết quả kỹ thuật.2 nhóm về kết quả kỹ thuật.

 





Kết luận

Số liệu nghiên cứu cho thấy phác đồ sử dụng Orgalutran cho kết quả thai lâm sàng tương đương với phác đồ dài đang được sử dụng trong kích thích buồng trứng để làm thụ tinh trong ống nghiệm. Tuy nhiên, phác đồ Orgalutran còn có một số ưu điểm hơn phác đồ dài như:
- Thời gian tiêm thuốc tổng cộng ngắn hơn phác đồ dài khoảng 13 ngày
- Thòi gian tiêm thuốc Puregon ngắn hơn phác đồ dài khoảng 2 ngày, như vậy tiết kiệm được chi phí cho bệnh nhân
- Số thuốc Puregon cần tiêm giảm đi khoảng 200 – 250 đơn vị so với phác đồ dài, do đó, chi phí giảm đi.
- Tỉ lệ quá kích buồng trứng ít hơn so với phác đồ dài.