Nếu bạn là một nhân viên y tế trong ngành sản phụ khoa, chắc chắn bạn cảm nhận được nhu cầu điều trị hiếm muộn trong cộng đồng lớn đến nhường nào. Ghi nhận tại các nước Bắc Âu – nơi chắc chắn có tỷ lệ gia tăng dân số thấp hơn Việt nam – cho thấy nhu cầu điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) hàng năm là 2000 bệnh nhân cho mỗi triệu dân. Với 1000 ca điều trị mỗi năm như ở bệnh viện Từ Dũ, phải cần đến hơn 160 trung tâm như vậy mới đủ sức giải quyết được nhu cầu điều trị của nhân dân Việt nam. Thế nhưng, vào thời điểm hiện nay số trung tâm thực hiện thành công kỹ thuật TTTON trong nước chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Được bộ Y tế định hướng là một trong những trọng tâm phát triển của ngành trong thời gian tới, hỗ trợ sinh sản (HTSS) nói chung hay kỹ thuật TTTON nói riêng tại Việt nam hứa hẹn có những bước tiến ngoạn mục trong tương lai không xa.
Xây dựng dự án
“Thủ tục đầu tiên” ngày nay không còn là tiền mà là dự án. Nhu cầu có sẵn. Kế hoạch đúng định hướng. Vốn đầu tư không quá cao. Kỹ thuật đã được “Việt hóa” và áp dụng thành công. Do vậy, công việc đầu tiên để thành lập trung tâm TTTON là phải xây dựng được một dự án hoàn chỉnh, có tính khả thi. Thế nào là một dự án hoàn chỉnh? Làm sao để đảm bảo tính khả thi? Nói cách khác, làm sao đảm bảo rằng trung tâm TTTON mới ra đời sẽ thành công? Trong lãnh vực còn quá mới mẻ này, chỉ có những ai đã làm và đã thành công mới đủ khả năng để có thể trả lời câu hỏi đó.
Để có khái niệm chung, trước hết hãy tham quan một trung tâm TTTON điển hình với 4 yếu tố cơ bản: cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nhân sự và quy trình làm việc.
Cơ sở hạ tầng
Trong trường hợp thông thường, trung tâm TTTON sẽ được bố trí tại một khu vực có sẵn trong bệnh viện. Khi đó, tùy hoàn cảnh cụ thể mà trung tâm ấy phải đầu tư thêm trang thiết bị để đảm bảo môi trường sinh hoạt được thuận lợi và an toàn. Một số điểm sau cần lưu ý khi bố trí một trung tâm TTTON:
Môi trường. Nên hạn chế lưu thông quanh khu vực phòng cấy phôi và cách ly với những nguồn ô nhiễm. Môi trường tốt giúp nhân viên làm việc tốt hơn.
Không khí. Nên tạo một áp lực dương bên trong phòng cấy phôi để hạn chế sự xâm nhập của không khí từ bên ngoài. Hạn chế thông thương trực tiếp từ phòng cấy phôi ra môi trường ngoài.
Ánh sáng-Điện-Nước. Tốt nhất nên sử dụng nguồn sáng điều chỉnh được. Cần có nguồn điện ổn định và có biện pháp dự phòng khi xảy ra sự cố mất điện. Sử dụng nước siêu lọc để rửa các trang thiết bị dùng trong TTTON.
Ngoài ra, cần bố trí hợp lý các đường dẫn khí, hệ thống điều hòa nhiệt độ, độ ẩm, các đường dẫn điện, nước vào và ra khỏi khu vực phòng cấy phôi. Các hệ thống này nên được thiết kế để việc sửa chữa, bảo trì có thể thực hiện mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động của phòng cấy phôi.
Tối ưu nhất là một cơ sở hạ tầng được thiết kế đặc biệt cho trung tâm TTTON. Từ việc chọn vị trí để tránh ô nhiễm, tiếng ồn, rung động… đến việc bố trí các phòng ở những vị trí thuận lợi, đảm bảo phát huy tối đa công năng và hạn chế ảnh hưởng đến nơi cấy phôi. Tuy nhiên, một trung tâm TTTON xây mới hoàn toàn cũng có khả năng gây ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động cấy phôi nếu như những nguyên vật liệu xây cất không phù hợp hoặc không được xử lý đúng mức.
Trang thiết bị
Có thể cơ bản phân trang thiết bị cho trung tâm TTTON thành 2 nhóm: cố định và tiêu hao.
Thiết bị cố định. Là những thiết bị có thể sử dụng cho nhiều bệnh nhân, bao gồm các loại máy móc, các loại kính hiển vi, các tủ thao tác vô trùng… Những dụng cụ như pipet tự động, đèn cồn… cũng có thể tạm kể vào nhóm này.
Trong nhóm thiết bị cố định cần đặc biệt lưu ý tủ cấy CO2 và các loại kính hiển vi (KHV). Tủ cấy là nơi trứng/phôi phát triển, cung cấp những điều kiện tương tự bên trong đường sinh dục của người mẹ. Mọi thay đổi khác với điều kiện tối ưu đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của phôi. Một khi ra khỏi tủ cấy, nơi trứng/phôi thường đến nhất chính là KHV. KHV là nơi trứng được thu thập, được thụ tinh và kiểm tra thụ tinh, là nơi phôi được kiểm tra chất lượng để chuyển trở lại vào cơ thể người mẹ. Tủ cấy và KHV là hai thiết bị quan trọng nhất trong quy trình nuôi cấy phôi bên ngoài cơ thể.
Dụng cụ-môi trường tiêu hao. Là tất cả những thứ chỉ sử dụng một lần, bao gồm tất cả các dụng cụ chứa bằng nhựa, tất cả dụng cụ hút bằng nhựa hoặc thủy tinh, cũng như tất cả các loại môi trường lọc, rửa, cấy… Dụng cụ tiêu hao còn bao gồm những loại lọc không khí, lọc dung dịch và những dụng cụ chuyên dùng để lọc rửa tinh trùng.
Tuy chỉ sử dụng một lần nhưng dụng cụ và môi trường kể trên sẽ tiếp xúc trực tiếp với giao tử/phôi. Nói cách khác, chất lượng của phôi tạo thành sẽ do môi trường và những dụng cụ tiêu hao này quyết định. Chính vì vậy chỉ nên ưu tiên sử dụng “hàng hiệu” – những loại dụng cụ và môi trường mà chất lượng đã được khẳng định.
Nhân sự
Con người luôn là yếu tố trung tâm của mọi hoạt động. Với vốn đầu tư có thể xây dựng cơ sở vật chất hoàn chỉnh, có thể trang bị những máy móc, dụng cụ hiện đại nhưng như thế chưa đủ để thành công. Cần phải có một tập thể những con người có tâm huyết, có kiến thức và kinh nghiệm để vận hành trung tâm. Những tiêu chuẩn mà một nhân viên trung tâm TTTON cần có là:
Kiến thức và kỹ năng cơ bản. Là điều kiện tiên quyết. Đây là những kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết với hoạt động của một trung tâm TTTON.
Tính kỹ luật. Là tiêu chuẩn thứ hai, đảm bảo cho hoạt động của trung tâm được trôi chảy và an toàn.
Khả năng cập nhật kiến thức. Là tiêu chuẩn thứ ba, giúp cho trung tâm theo kịp đà phát triển không ngừng của lãnh vực HTSS
Quản lý
Quản lý là khâu quan trọng hàng đầu nhưng thường ít được chú ý. Quản lý không chỉ để tránh sai sót mà còn để đảm bảo tỷ lệ thành công cao và ổn định.
Quy trình. Để công việc được tiến hành trôi chảy, mọi người phải nắm vững công việc của mình và quy trình làm việc chung của trung tâm. Để hạn chế sai sót, cần có những quy định chặt chẽ, cụ thể trong thao tác, cũng như có cơ chế kiểm tra chéo trong công việc. Mọi quy trình đề ra phải được tuyệt đối tuân thủ và chỉ được thay đổi khi được sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền.
Mọi số liệu về quy trình điều trị của từng bệnh nhân phải được theo dõi và lưu trữ.
Luật pháp. Là một lãnh vực phát triển rất nhanh, HTSS đã đặt ra nhiều vấn đề cho các nhà làm luật và hoạch định chính sách. Bản chất là một kỹ thuật liên quan đến việc tạo ra sự sống, HTSS làm nảy sinh những tranh cãi về xin tinh trùng, xin trứng, cho-nhận phôi, hủy phôi trữ, mang thai hộ, sinh sản vô tính… Vào đầu năm 2003, nghị định và thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định chính phủ về sinh con bằng phương pháp khoa học đã bước đầu đề ra những quy định cho việc thực hiện kỹ thuật HTSS tại Việt nam. Hoạt động của trung tâm TTTON phải được giám sát để đảm bảo tuân thủ những quy định do chính phủ đề ra.
Thay lời kết: kinh nghiệm từ dũ
Nhìn lại toàn bộ chặng đường đã qua, có thể thấy thành công của đơn vị TTTON tại bệnh viện Từ Dũ không đến trong một ngày. Để có em bé chào đời vào năm 1998, công việc chuẩn bị đã được xúc tiến từ hơn 10 năm trước đó (Hộp 1). Những đơn vị liên quan và hỗ trợ cho TTTON lần lượt hình thành. Những trang thiết bị dần được đầu tư. Nhân sự được gởi đi đào tạo. Tất cả để có ngày 30/4/1998 với sự ra đời của ba em bé TTTON đầu tiên tại Việt nam. Và với những kinh nghiệm đó, những đứa trẻ TTTON đã nối tiếp nhau ra đời tại Viện Bảo vệ Bà mẹ-Trẻ em, Bệnh viện Phụ sản Quốc tế, Học viện Quân Y chỉ sau 2 năm tích cực đầu tư.
Ở Việt Nam cho đến nay, có thể nói các trung tâm sản khoa tuyến tỉnh đã được hỗ trợ ngân sách và chủ trương đều có thể thực hiện thành công TTTON nếu được sự tư vấn và hỗ trợ về kỹ thuật đúng mức
|
Hộp 1 |
Sự phát triển của kỹ thuật HTSS tại BV Từ Dũ (đến 30/4/1998) |
|
1986 |
– Thành lập phòng Di truyền tế bào phục vụ chẩn đoán tiền sản |
|
1990 |
– Thành lập phòng Xét nghiệm nội tiết |
|
1992 |
– Triển khai kỹ thuật siêu âm bằng đầu dò âm đạo |
|
1993 |
– Áp dụng kỹ thuật nội soi ổ bụng và nội soi buồng tử cung |
|
1995 |
– Áp dụng thành công tiến bộ trong chăm sóc trẻ sơ sinh cực non |
|
1995 |
– Phòng xét nghiệm Tinh trùng chính thức hoạt động |
|
1997 |
– Bộ trưởng Bộ Y tế ký văn bản cho phép BV Từ Dũ thực hiện TTTON |
|
1998 |
– Em bé TTTON đầu tiên của Việt nam ra đời (30/4) |



Hiếm muộn



