Tuổi của phụ nữ và khả năng sinh sản
BS. Phùng Huy Tuân – BS. Hồ Mạnh Tường

Để đứa trẻ chào đời, điều kiện tiên quyết là phải có sự kết hợp giữa giao tử đực là tinh trùng với giao tử cái là noãn hay trứng trưởng thành để tạo thành phôi có khả năng phát triển bên trong đường sinh dục nữ. Ở nam giới, quá trình sinh tinh trùng diễn ra suốt đời do những tế bào sinh tinh trước khi bước vào phân chia tạo tinh trùng đã tự nhân lên tạo thành những dòng tế bào sinh tinh khác. Trong khi ở nữ giới khả năng sinh sản giảm dần theo tuổi do số lượng noãn ngày một mất đi mà không sinh thêm. Do đó khả năng sinh sản sẽ phụ thuộc vào số lượng noãn còn hiện diện bên trong buồng trứng, khái niệm này còn được gọi là “dự trữ buồng trứng”. (ovarian reserve)

SINH LÝ HIỆN TƯỢNG PHÁT TRIỂN NANG NOÃN

Sau khi nguyên phân liên tục đạt số lượng tối đa khoảng 7 triệu nguyên bào mầm vào khoảng tháng thứ bảy của thai kỳ, các tế bào mầm này thoái hóa và gián phân dần để tạo thành noãn sơ cấp. Khi bé gái chào đời, số lượng nang noãn trong 2 buồng trứng khoảng 1.000.000. Toàn bộ số noãn này sẽ liên tục giảm đi, còn khoảng 250.000 vào tuổi dậy thì và hết hẳn khi đến tuổi mãn kinh. Phụ nữ sinh ra với lượng nang noãn sơ cấp xác định, không sinh sản thêm và mất dần theo thời gian. Tuổi càng cao lượng nang này càng giảm đi. Vào mọi thời điểm, trong buồng trứng luôn có một số lượng nhất định nang noãn được chiêu mộ để noãn bước vào giai đoạn phát triển cuối cùng trở thành noãn trưởng thành sẵn sàng cho thụ tinh, hoặc thoái triển. Dưới ảnh hưởng của sự chế tiết theo chu kỳ của nội tiết hướng sinh dục, thường chỉ có một nang noãn phát triển vượt trội để rụng vào khoảng giữa chu kỳ kinh nguyệt. Tuy bị giới hạn về số lượng, con số nang noãn nêu trên hoàn toàn đủ để người phụ nữ
hoàn thành chức năng sinh sản khoảng 400 – 500 trứng trưởng thành rụng trong suốt cuộc đời.

TUỔI VỚI KHẢ NĂNG SINH SẢN

Số lượng nang noãn không hề tăng thêm mà chỉ có thể giảm đi theo tuổi. Vào giai đoạn cuối của độ tuổi sinh sản, số lượng nang noãn chỉ còn ít và đa phần có những bất thường trong cấu trúc cũng như chức năng. Do đó khả năng có thai ở phụ nữ lớn tuổi sẽ giảm và tỉ lệ phôi thai bất thường về di truyền tăng cao dẫn đến tăng tỉ lệ sẩy thai, thai lưu và tăng tỉ lệ sanh con bị dị tật, chậm phát triển trí tuệ. Những thống kê về dân số cho thấy khả năng sinh sản ở người phụ nữ giảm rõ rệt khi quá 35 tuổi và hầu như rất ít phụ nữ sinh con khi quá 40 tuổi, mặc dù kinh nguyệt chỉ thực sự chấm dứt khoảng độ tuổi 45-50. Theo thống kê tại đơn vị Thụ tinh trong ống nghiệm, khoa Hiếm muộn BV Từ Dũ, tỷ lệ có thai giảm từ 50% ở phụ nữ dưới 30 tuổi xuống còn 10% ở phụ nữ trên 40 tuổi và dưới 1% phụ nữ trên 45 tuổi, tính theo tất cả nguyên nhân gây vô sinh. Đối với kỹ thuật thụ tinh nhân tạo (bơm tinh trùng vào buồng tử cung), khả năng có thai chỉ còn vào khoảng 1-2%. Những con số này tương ứng với các kết quả khảo sát được công bố trên thế giới. Vai trò của yếu tố tuổi càng thể hiện rõ rệt hơn qua kỹ thuật cho trứng. Với kỹ thuật này, trứng của người cho trẻ tuổi hơn được sử dụng giúp tỷ lệ thành công đạt trên 50%. Do đó, có thể nói tuổi là một yếu tố quan trọng nhất để tiên lượng về khả năng sinh sản của người phụ nữ. Tuổi thể hiện một phần chức năng hoạt động và dự trữ của buồng trứng. Tuổi có thai thích hợp nhất cho người phụ nữ, về mặt sinh học, là khoảng 20-30 tuổi. Trên 30 tuổi khả năng có thai bắt đầu giảm. Từ 35 tuổi, khả năng có thai giảm rất nhanh, kèm theo là tăng các tỉ lệ tai biến trong khi mang thai, sanh nở. Đặc biệt, sau 40 tuổi khả năng có thai đã giảm rất thấp, trên 1/3 phụ nữ ở tuổi này không còn khả năng sinh con. Cùng với sự phát triển của TTTON, người ta thấy rằng đối với các phụ nữ trên 40 tuổi, đã bắt đầu có dấu hiện về suy yếu buồng trứng thì việc sử dụng trứng của chính mình để điều trị hiếm muộn sẽ phải chi phí nhiều cho việc kích thích buồng trứng, trong khi khả năng thành công thấp, tỉ lệ bất thường thai kỳ và bất thường ở em bé cao. Theo xu hướng chung hiện nay trên thế giới, sau khi xem xét các vấn đề về tuổi của người mẹ, khả năng thành công, chi phí điều trị, sức khỏe em bé, việc xin trứng và
TTTON là giải pháp pháp kinh tế, hiệu quả và an toàn nhất cho các phụ nữ trên 40 tuổi có suy giảm chức năng buồng trứng.

Tài liệu tham khảo

1.Lim SAT, Tsakok MFH. Age-related decline in fertility: a link to degenerativeoocytes. Fertil Steril 1997;68:265-71.

2.Tietze C. Reproductive span and rate of reproduction among Hutteritewomen. Fertil Steril 1957;8:89-97.

3. Khoa Hiếm Muộn – Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ. Báo cáo hoạt động năm 2001.

4. Padilla SL, Bayati J, Garcia JE. Prognostic value of the early serum estradiol response to leuprolide acetate in in vitro fertilization. Fertil Steril 1990;53:288-94.

4. Moomjy M, Cholst I, Mangieri R, Rosenwaks Z. Oocyte donation: insights into implantation. Fertil Steril 1999;71:15-21.