Vài nét tổng quan
Chlamydia trachomatis (Ct) là vi khuẩn ký sinh nội bào. Ct là tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục hàng đầu trên thế giới. Khi lây nhiễm, Ct hầu như không gây triệu chứng lâm sàng hoặc chỉ là những triệu chứng không đặc hiệu. Tuy nhiên, khi lây nhiễm lan lên đường sinh dục trên của người phụ nữ thì biến chứng của Ct trở nên nặng nề và dai dẳng. Tổn thương đặc hiệu của Ct là những dải dính giữa các cấu trúc bên trong ổ bụng. Chính những dải dính này ngăn cản hoạt động chức năng của ống dẫn trứng (ODT). Ở những bệnh nhân này, 40% phát triển thành viêm vùng chậu với di chứng là vô sinh, thai ngoài tử cung hoặc đau mãn tính vùng chậu.
|
Ct và TTNT – Kết quả nghiên cứu
|
Tại Việt Nam, nhiễm Ct là một vấn đề đã sớm được lưu ý. Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng bệnh nhân vô sinh, những người có khả năng chịu hậu quả của nhiễm Ct. Trong số bệnh nhân được thực hiện Thụ tinh nhân tạo - Bơm tinh trùng vào buồng tử cung - đã có bao nhiêu người nhiễm Ct trước đó?
Ảnh hưởng của tiền căn nhiễm đó lên kết quả điều trị như thế nào?
Để trả lời những câu hỏi trên, nghiên cứu đầu tiên trong cả nước về Chlamydia trên đối tượng bệnh nhân thụ tinh nhân tạo (TTNT – hay Bơm tinh trùng vào buồng tử cung) đã được thực hiện tại khoa Hiếm muộn – Bệnh viện Từ Dũ.
Tại sao khảo sát trên các trường hợp TTNT?
Bởi vì đa phần nhiễm Ct không để lại triệu chứng, bệnh nhân vô sinh là đối tượng có khả năng chịu hậu quả của nhiễm Ct trước đó. Một trong những biện pháp điều trị vô sinh được sử dụng phổ biến do tính đơn giản và ít tốn kém là TTNT. Tuy nhiên, điều kiện cần để thực hiện biện pháp điều trị này là bệnh nhân phải có tối thiểu một ODT còn hoạt động chức năng.
Để khảo sát ODT, xét nghiệm thường được sử dụng là chụp buồng tử cung – ODT (HSG). Mặc dù có khả năng đánh giá khách quan tình trạng thông thương của ODT, xét nghiệm này lại không cho phép đánh giá hoạt động chức năng của ODT, đặc biệt trong trường hợp tổn thương gây ra do nhiễm Ct. Do vậy, gần đây một số tác giả nghiên cứu đề nghị sử dụng xét nghiệm Ct thay cho HSG để đánh
giá hoạt động của ODT.
Tại sao sử dụng xét nghiệm huyết thanh IgG?
Sau khi bị Ct lây nhiễm đường sinh dục trên, cơ thể phản ứng lại bằng cách sinh ra kháng thể để chống lại những vị khách không mời này. Tuy nhiên, do đặc điểm ký sinh nội bào và những đặc tính riêng, Ct vẫn thoát khỏi được sự truy quét của kháng thể để tái nhiễm khi có cơ hội. Càng tái nhiễm nhiều lần nồng độ kháng thể kháng Ct càng nhiều và khả năng bị tổn thương ODT cũng tăng tương ứng! Do vậy, so với những xét nghiệm kháng nguyên chỉ có khả năng phát hiện sự hiện diện của Ct vào thời điểm hiện tại, xét nghiệm kháng thể kháng Ct cho phép (1) đánh giá tiền căn nhiễm Ct đường sinh dục trên, và (2) nồng độ kháng thể cho phép ước lượng mức độ tổn thương ODT do Ct gây ra.
Kết quả – Bàn luận
Trong thời gian từ 01/03 - 20/07/2004 , có 380 bệnh nhân thực hiện thủ thuật TTNT đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Tất cả bệnh nhân đều đủ điều kiện thực hiện thủ thuật TTNT và tham gia nghiên cứu trọn vẹn từ khảo sát ban đầu đến thử thai đánh giá kết quả quy trình điều trị. Hầu hết bệnh nhân trong nghiên cứu dưới 35 tuổi, chiếm 87,4%, trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên chiếm 91,3% ở vợ và 93,7% ở chồng. Bốn nhóm nguyên nhân gây vô sinh chính được ghi nhận là (1) tinh trùng chồng yếu, (2) rối loạn phóng noãn, (3) tổn thương 1 ODT, và (4) chưa rõ nguyên nhân, chiếm tổng cộng 89,9 . Tỷ lệ nhiễm Ct trong nghiên cứu là 23,4%. Nói cách khác, gần ¼ số bệnh nhân được coi là có ODT hoạt động bình thường bị nhiễm Ct ở những mức độ khác nhau. Con số này có thể còn cao hơn nếu đối tượng nghiên cứu là nhóm có ODT có tổn thương, như trong nghiên cứu trước đây tại Bệnh viện Từ Dũ, trong đó gần 50% bệnh nhân có ống dẫn trứng tổn thương đã bị nhiễm Ct.
Khi nhìn vào kết quả điều trị và so sánh với nồng độ kháng thể kháng Ct, điều dự đoán về tương quan nghịch giữa nồng độ kháng thể và tỷ lệ có thai trở thành hiện thực khi chỉ có 1,8% bệnh nhân ở nhóm nồng độ kháng thể cao (2+ đến 4+) có thai, so với 9,3% ở nhóm âm tính. Cần có thêm nghiên cứu khẳng định sự chênh lệch trong kết quả điều trị này, từ đó có chiến lược tầm soát và điều trị thích hợp cho bệnh nhân.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy yếu tố tiền căn nạo thai – điều hòa kinh nguyệt có liên quan đến kết quả xét nghiệm Ct, trong đó bệnh nhân từng có thực hiện thủ thuật vào buồng tử cung có nguy cơ nhiễm Ct cao gấp 2,4 lần những người chưa từng thực hiện thủ thuật tương tự. Liệu việc thực hiện thủ thuật làm tăng nguy cơ lây
nhiễm Ct, hay nạo thai – điều hòa kinh nguyệt là biểu hiện của hành vi nguy cơ trong lây nhiễm Ct là điều cần làm sáng tỏ thêm trong những nghiên cứu về sau.
Kết luận
Nhiễm Ct ảnh hưởng lên gần ¼ số bệnh nhân điều trị TTNT. Nồng độ kháng thể càng cao, tỷ lệ có thai sau điều trị càng thấp. Tiền căn thực hiện thủ thuật vào buồng tử cung dường như có liên quan đến tình trạng nhiễm Ct của bệnh nhân.
Tài liệu tham khảo
Đỗ Quang Minh (2004) Chlamydia và vô sinh. Sinh sản và Sức khỏe, Số 7. NXB Y học Tp Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Thanh Hà (2000) Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm Chlamydia trachomatis và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ vô sinh do tắc ống dẫn trứng đến khám tại Bệnh viện Từ Dũ – Tp Hồ Chí Minh. Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh.



Hiếm muộn



