Bạn cần biết gì về ICSI
CNSH Trần Thị Hạnh Dung
31/05/2009

    Kể từ khi Louise Brown - đứa bé đầu tiên từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm- ra đời năm 1978, các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã không ngừng phát triển. Tuy nhiên, kỹ thuật IVF cổ điển còn một số mặt hạn chế như đòi hỏi chất lượng tinh trùng người chồng phải tương đối khá tốt, bất thường nhẹ hay trung bình. Do vậy, những bệnh nhân nam có chất lượng tinh trùng kém, rất kém, hoặc bất thường nặng hay thậm chí không có tinh trùng thì cơ hội làm cha gần như là không có. Mãi đến năm 1992, kỹ thuật ICSI lần đầu tiên được công bố  đã thật sự là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, đem đến cơ hội làm cha mẹ cho không ít các cặp vợ chồng hiếm muộn do vấn đề người chồng.

Thực hiện ICSI như thế nào?
    ICSI là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Intra-cytoplasmic sperm injection, nghĩa là tiêm tinh trùng vào bào tương trứng.
    Phần kích thích nang noãn cho kỹ thuật ICSI cũng giống như kỹ thuật IVF thông thường. Trong kỹ thuật IVF thông thường, tinh trùng được chuẩn bị để chọn lấy những tinh trùng có di động tốt nhất, sau đó đem đi ủ với trứng. Tinh trùng sẽ tự xâm nhập vào trứng và thụ tinh. Còn đối với kỹ thuật ICSI, tinh trùng lấy được từ người chồng sẽ được xử lý đặc biệt để thu được một ít tinh trùng tốt nhất. Sau đó chuyên viên labo sẽ chọn lấy từng tinh trùng, giữ bằng một vi kim và tiêm trực tiếp vào bào tương trứng. Do trứng và tinh trùng rất nhỏ mà mắt thường không nhìn thấy được, tất cả quá trình trên đều đựơc thực hiện dưới kính hiển vi phóng đại hàng trăm lần. Vì vậy, đây là một kỹ thuật hết sức tinh vi, đòi hỏi sự khéo léo của các chuyên viên labo.
    Sự thụ tinh sẽ được kiểm tra sau 16-18h kể từ khi thực hiện tiêm tinh trùng vào bào tương trứng. Phôi sẽ được chuyển vào buồng tử cung người vợ vào ngày 2, ngày 3 hay ngày thứ 5 tùy thuộc vào từng trung tâm.
Kỹ thuật ICSI được thực hiện tại bệnh viện Từ Dũ lần đầu tiên vào năm 1998. Đến nay đã có hơn 3000 em bé chào đời tại bệnh viện chúng tôi từ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, trong đó đa số là từ kỹ thuật ICSI.



ICSI được chỉ định trong trường hợp nào?
ICSI chủ yếu được chỉ định đối với các trường hợp vô sinh do nam
•    Tinh trùng rất ít
•    Tinh trùng có độ di động kém
•    Tinh trùng có hình dạng bất thường nặng
•    Không tinh trùng do tắc nghẽn ống dẫn tinh, bất sản ống dẫn tinh …
Ngoài ra, ICSI còn được chỉ định đối với những trường hợp vô sinh không rõ nguyên nhân. Nghĩa là nếu người vợ có chức năng buồng trứng và vòi trứng bình thường. Người chồng có chất lượng tinh trùng khá tốt, nhưng vẫn không thể có thai. Người ta nghĩ rằng có một nguyên nhân nào đó mà khoa học chưa nghiên cứu được, làm cho tinh trùng không thể xâm nhập vào trứng.
Tương tự đối với các trường hợp thực hiện IUI nhiều lần không có kết quả; hoặc kết quả thụ tinh kém hoặc không thụ tinh trong chu kỳ IVF trước đó. Những trường hợp này cũng sẽ được chỉ định ICSI.
Những trường hợp hiếm muộn do vấn đề từ người vợ như tắc ống dẫn trứng, bất sản ống dẫn trứng v.v.., mà khả năng buồng trứng vẫn còn hoạt động tốt; đồng thời tinh trùng người chồng khá tốt thì không cần phải áp dụng kỹ thuật ICSI để điều trị hiếm muộn, mà có thể áp dụng phương pháp khác như kỹ thuật IVF cổ điển.

Khả năng thụ tinh của ICSI như thế nào?
Người ta thấy rằng khoảng 70-85% trứng được thực hiện ICSI sẽ được thụ tinh. Tỉ lệ này cũng tương đương tại bệnh viện Từ Dũ.
Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp xảy ra sau ICSI:
•    Trứng bị tổn hại và chết
•    Trứng không phát triển thành phôi mặc dù đã được tiêm tinh trùng vào bào tương trứng.
•    Phôi không phát triển
Khả năng có thai của các cặp vợ chồng được thực hiện kỹ thuật ICSI tương tự như đối với kỹ thuật IVF thông thường.

Em bé sinh ra từ kỹ thuật ICSI sẽ như thế nào?
Đây là một kỹ thuật mới, các nghiên cứu về sự phát triển của các em bé ra đời từ kỹ thuật ICSI vẫn còn đang được các nhà khoa học trên thế giới thực hiện. Tuy nhiên đa số nghiên cứu đều cho thấy các bé ra đời từ kỹ thuật ICSI cũng như các kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm nói chung đều có tỷ lệ dị tật bẩm sinh và phát triển tâm lý không khác biệt so với trẻ em bình thường.
Tuy nhiên, do một số trường hợp bất thường tinh trùng có liên quan đến một số bất thường nhỏ trên nhiễm sắc thể Y, nên nếu đứa bé sinh ra là con trai, nhiều khả năng bé sẽ thừa hưởng gen này của cha và mang bệnh lý hiếm muộn như cha. Còn nếu đứa bé sinh ra là con gái thì sẽ không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, với khả năng phát triển của y học ngày nay, trong tương lai hy vọng con người sẽ có khả năng chữa trị những bất thường này ngay từ giai đoạn rất sớm.