Như chúng ta đã biết, trữ lạnh mô hay trữ lạnh tế bào là để bảo tồn nó cho tương lai. Với những kỹ thuật hiện nay, trữ lạnh phôi là một trong những phương pháp hỗ trợ hiệu quả trong qúa trình điều trị vô sinh cho những trường hợp bệnh nhân có phôi dư sau chu kỳ chuyển phôi tươi.
Nguyên lý trữ lạnh phôi
Hiện nay trên thế giới áp dụng kỹ thuật trữ lạnh phôi bằng phương pháp thủy tinh hóa. Với kỹ thuật này, sự thành công phụ thuộc vào việc loại bỏ nước được hình thành trong các tế bào của phôi trong quá trình trữ lạnh. Nếu nước còn sót lại trong tế bào, nó sẽ hình thành nên các “tinh thể nước đá”, chính những “tinh thể nước đá” này sẽ họat động như những “con dao” và nó sẽ phá hủy bên trong tế bào hoặc “cắt” đứt làm vỡ màng của tế bào. Như vậy phôi sẽ không có khả năng sống sau rã. Để tránh sự hình thành tinh thể nước đá trong phôi, kỹ thuật trữ lạnh phôi bằng phương pháp thủy tinh hóa có “chất bảo vệ” được thêm vào để thay thế hầu hết các nước có trong phôi. “Chất bảo vệ” sẽ ngăn ngừa hình thành tinh thể nước đá, nên phôi sẽ được an toàn trong quá trìnhh trữ lạnh.
Khi phôi được lấy ra từ các thùng trữ lạnh để sử dụng, “chất bảo vệ” sẽ được loại bỏ khỏi tế bào phôi để thay thế bằng nước. Mặc dù phôi trong có vẻ khỏe mạnh, nhưng nó có thể không di chuyển được nước và “chất bảo vệ” vào và ra khỏi tế bào một cách hiệu quả. Nếu điều này xảy ra ở một phần của phôi hoặc tòan bộ phôi thì số phôi đó không có khả năng sống trong quá trình trữ và rã phôi.
Kỹ thuật trữ lạnh phôi

Kỹ thuật trữ lạnh phôi bằng phương pháp thủy tinh hóa là kỹ thuật hạ nhiệt độ nhanh. Phôi được hạ đến nhiệt độ -1960C, ở nhiệt độ này chúng được lưu trữ trong bình nitơ lỏng. Khi rã phôi, phôi sẽ được rã ở nhiệt độ phòng. Sau khi rã, phôi sẽ được đánh giá lại khả năng sống của phôi về số tế bào, tỷ lệ mảnh vỡ của phôi bào. Nếu phôi sau rã đông đạt trên 50% sống thì sẽ tiến hành chuyển phôi sau rã.
Hầu hết những phôi sau rã đông được thực hiện phương pháp “hỗ trợ phôi thoát màng” (AH) trước khi chuyển phôi. Màng zona – bao quanh phôi – trở nên dày và cứng trong quá trình trữ lạnh. Do đó, khi dùng AH nó sẽ giúp cho việc sự thóat màng của phôi bào dễ dàng hơn.
Đứa bé đầu tiên đựơc sinh ra từ phôi trữ lạnh vào năm 1984. Tại bệnh viện Từ Dũ đã áp dụng phương pháp trữ phôi bằng phương pháp hạ nhiệt độ nhanh vào năm 2002. Đến nay tỉ lệ thai lâm sàng sau chuyển phôi trữ lạnh đã đạt đến 38% (năm 2009).



Hiếm muộn



