Lưới bào tương cổ là một cấu trúc dạng túi có ở tinh trùng của tất cả các loài động vật có vú. Ở những tinh trùng có phần đầu chưa trưởng thành thì lưới bào tương này thường gặp ở cổ, những tinh trùng trưởng thành cấu trúc này thường gặp ở quanh đoạn giữa (midpiece)

Hình (a) (c) (d).Tinh trùng có lưới bào tương cổ bất thường
Hình (b). Tinh trùng có lưới bào tương cổ bình thường
Hình (b). Tinh trùng có lưới bào tương cổ bình thường
Theo Tổ Chức Y Tế Thới Giới WHO (1999) và Menkveld, cs, (1990), ở người, lưới bào tương cổ được quan sát trên phiến phết tinh dịch nhuộm Papanicolaou để khô tự nhiên. Chúng được gọi là bất thường khi kích thước > 1/2 ( đến 1/3) kích thước đầu tinh trùng. Tuy nhiên, hầu như các nhà lâm sàng đều cho rằng những lưới bào tương này hiện diện ở tinh trùng đều là bất thường.
Một nghiên cứu gần đây gây chú ý rằng, cách nhìn nhận về lưới bào tương cổ của các nhà lâm sàng và các nhà khoa học không giống nhau. Theo các nhà khoa học:
• Cấu trúc lưới bào tương cổ trên lame nhuộm để khô tự nhiên thực ra, chúng chỉ là các cơ quan có chức năng bình thường ở tinh trùng, được tiết ra từ tinh hoàn của các loài hữu nhũ.
• Chúng được xem như “ phần bào tương còn sót lại”, là một đặc điểm của tinh trùng bất thường được sản xuất do khiếm khuyết trong quá trình sinh tinh (Amann và cs, 2000).
• Cấu trúc lưới bào tương “thực sự” là phần hiện diện trên tinh trùng người và di động đặc biệt khi soi tươi dưới kính hiển vi phản pha.
Nhiều báo cáo chỉ ra rằng sự hiện diện của “phần bào tương sót lại” ở tinh trùng tượng trưng cho những bất thường về chức năng của chúng: Ví dụ: sự có mặt lưới bào tương cổ ở tinh trùng người có thể gây vô sinh ở nam giới hút thuốc lá (Mak và cs, 2000), mặt khác sự hiện diện cấu trúc này làm cho cấu trúc trục tinh trùng ngắn đi (Gergely và cs, 1999), làm cho tinh trùng di động yếu (Zini và cs, 1998), bất thường đầu và đoạn giữa (Huszar and Vigue, 1993, Gomez và cs, 1996, Gergely và cs, 1999), làm giảm khả năng thụ tinh (Keating và cs, 1997), làm giảm khả năng gắn với màng Zona Pellucida (Liu ang Baker, 1992), làm phá vỡ vùng chromatin và phá hủy DNA (Fischer và cs, 2003).
Mặc dù các nhà khoa học chưa tìm ra tầm quan trọng của cấu trúc này, nhưng họ cho rằng những tinh trùng có lưới bào tương cổ khi vào đường sinh dục nữ có môi trường nhược trương, cấu trúc này sẽ giúp tinh trùng tránh được hiện tượng căng phồng do mất cân bằng trong thẩm thấu ( vì nước thấm vào lưới bào tương trước) (Abraham – Peskirvà cs, 2002), đồng thời chúng cũng đóng một vai trò nhất định trong việc tinh trùng thụ tinh với trứng.
Qua nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra kết luận :
• Ở tất cả các loài động vật có vú, lưới bào tương cổ là cấu trúc bình thường của tinh trùng nếu kích thước này < 1/2 kích thước đầu tinh trùng (Cooper và cs, 2004).
• Trong tinh dịch tỷ lệ tinh trùng bất động có lưới bào tương cổ thấp hơn tỷ lệ tinh trùng di động có mang cấu trúc này. Tuy nhiên, đây không phải là đặc điểm để đánh giá mẫu tinh dịch có chất lượng tinh trùng kém, hơn nữa nó cũng không ảnh hưởng đến khả năng sống và sự di chuyển của tinh trùng.
Một nghiên cứu gần đây gây chú ý rằng, cách nhìn nhận về lưới bào tương cổ của các nhà lâm sàng và các nhà khoa học không giống nhau. Theo các nhà khoa học:
• Cấu trúc lưới bào tương cổ trên lame nhuộm để khô tự nhiên thực ra, chúng chỉ là các cơ quan có chức năng bình thường ở tinh trùng, được tiết ra từ tinh hoàn của các loài hữu nhũ.
• Chúng được xem như “ phần bào tương còn sót lại”, là một đặc điểm của tinh trùng bất thường được sản xuất do khiếm khuyết trong quá trình sinh tinh (Amann và cs, 2000).
• Cấu trúc lưới bào tương “thực sự” là phần hiện diện trên tinh trùng người và di động đặc biệt khi soi tươi dưới kính hiển vi phản pha.
Nhiều báo cáo chỉ ra rằng sự hiện diện của “phần bào tương sót lại” ở tinh trùng tượng trưng cho những bất thường về chức năng của chúng: Ví dụ: sự có mặt lưới bào tương cổ ở tinh trùng người có thể gây vô sinh ở nam giới hút thuốc lá (Mak và cs, 2000), mặt khác sự hiện diện cấu trúc này làm cho cấu trúc trục tinh trùng ngắn đi (Gergely và cs, 1999), làm cho tinh trùng di động yếu (Zini và cs, 1998), bất thường đầu và đoạn giữa (Huszar and Vigue, 1993, Gomez và cs, 1996, Gergely và cs, 1999), làm giảm khả năng thụ tinh (Keating và cs, 1997), làm giảm khả năng gắn với màng Zona Pellucida (Liu ang Baker, 1992), làm phá vỡ vùng chromatin và phá hủy DNA (Fischer và cs, 2003).
Mặc dù các nhà khoa học chưa tìm ra tầm quan trọng của cấu trúc này, nhưng họ cho rằng những tinh trùng có lưới bào tương cổ khi vào đường sinh dục nữ có môi trường nhược trương, cấu trúc này sẽ giúp tinh trùng tránh được hiện tượng căng phồng do mất cân bằng trong thẩm thấu ( vì nước thấm vào lưới bào tương trước) (Abraham – Peskirvà cs, 2002), đồng thời chúng cũng đóng một vai trò nhất định trong việc tinh trùng thụ tinh với trứng.
Qua nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra kết luận :
• Ở tất cả các loài động vật có vú, lưới bào tương cổ là cấu trúc bình thường của tinh trùng nếu kích thước này < 1/2 kích thước đầu tinh trùng (Cooper và cs, 2004).
• Trong tinh dịch tỷ lệ tinh trùng bất động có lưới bào tương cổ thấp hơn tỷ lệ tinh trùng di động có mang cấu trúc này. Tuy nhiên, đây không phải là đặc điểm để đánh giá mẫu tinh dịch có chất lượng tinh trùng kém, hơn nữa nó cũng không ảnh hưởng đến khả năng sống và sự di chuyển của tinh trùng.

Tóm lại khi cấu trúc lưới bào tương < 1/2 hay 1/3 kích thước đầu tinh trùng thì chúng không được xem là bất thường (WHO 1999), sự xuất hiện của chúng có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản chưa được biết đến. Mặt khác, một khám phá trên tinh trùng người từ chất nhầy cổ tử cung ( ngoài cơ thể) (Abraham – Peskir và cs, 2002) và từ ống dẫn trứng ( trong cơ thể) (Mortimer và cs, 1982) đã chỉ ra rằng cấu trúc lưới bào tương cổ là cấu trúc đặc trưng có chức năng bình thường của tinh trùng. Do đó chúng ta nên cẩn thận trong việc đánh giá cấu trúc này đế có định hướng đúng trong việc lựa chọn các phương pháp hỗ trơ sinh sản.



Hiếm muộn



