Kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI) là một kỹ thuật quan trọng trong điều trị vô sinh tại Việt Nam vì các lý do : đơn giản, rẻ tiền, dễ áp dụng, ít tai biến. Ước tính việc áp dụng đúng chỉ định IUI có thể giải quyết được nhu cầu có con cho khoảng 40% các trường hợp vô sinh tại Việt Nam Vì vậy, hỗ trợ sinh sản bằng kỹ thuật IUI là phương pháp có thể áp dụng rộng rãi cho hầu hết các cặp vợ chồng hiếm muộn - vô sinh có thu nhập thấp tại Việt Nam trước khi quyết định làm thụ tinh trong ống nghiệm.
Theo báo cáo trên thế giới tỷ lệ thành công IUI khoảng 8-22%. Nghiên cứu tại khoa Hiếm - Muộn bệnh viện Từ Dũ năm 2006, tỷ lệ thành công khoảng 20%. Tỷ lệ thành công này phụ thuộc vào nhiều yếu tố tuổi của bố mẹ, nguyên nhân gây hiếm muộn, các phác đồ kích thích buồng trứng, thuốc sử dụng…
Có nhiều loại thuốc và nhiều phác đồ kích thích buồng trứng được sử dụng nhằm mục đích kích thích sự phát triển của các nang nõan. Mỗi loại thuốc và mỗi phác đồ sử dụng đều có những ưu nhược điểm riêng. Một trong những yếu tố đáng lo ngại trong quá trình kích thích buồng trứng làm giảm tỷ lệ thành công của phương pháp IUI là hiện tượng hòang thể hóa nang noãn
Hoàng thể hóa nang noãn sớm xảy ra khi đỉnh LH (nội sinh) xuất hiện sớm, trước khi nang noãn trưởng thành, nghĩa là trước thời điểm cho hCG (nhằm mục đích gây trưởng thành trứng và phóng nõan). Có một số phác đồ có thể khắc phục được tình trạng này như phác đồ dài (down relagulation), phác đồ ngắn phối hợp GnRH agonist và FSH tuy nhiên phác đồ này có nhược điểm khi được thực hiện trong chương trình IUI: thời gian sử dụng dài, hình thành nang chức năng, tăng liều FSH, gia tăng nguy cơ quá kích buồng trứng…riêng phác đồ ngắn đôi khi cũng không thể hoàn toàn kiểm soát được đỉnh LH nội sinh sớm.
Để khắc phục các nhược điểm các phác đồ phối hợp GnRH agonist và FSH cũng như ngăn ngừa nguy cơ xuất hiện đỉnh LH nội sinh sớm, GnRH antagonist đã được nghiên cứu, sử dụng và báo cáo với nhiều ưu điểm ngăn ngừa được đỉnh LH nội sinh sớm do đó ngăn ngừa được hiện tượng hòang thể hóa nang noãn sớm, giảm thời gian sử dụng thuốc giảm liều FSH sử dụng, số lượng nang noãn vượt trội ít hơn do đó ngăn ngừa nguy cơ quá kích buồng trứng, và quan trọng nhất là tỷ lệ có thai tương đương với các phác đồ sử dụng GnRH agonist, đặc biệt phác đồ GnRH antagonist tỏ ra vượt trội hơn về tỷ lệ thai lâm sàng trong những trường hợp giảm dự trữ buồng trứng ở phụ nữ lớn tuổi. Đứa bé đầu tiên được sinh ra sau sử dụng GnRH antagonist đã được báo cáo ở Đức vào tháng 12/1993.
GnRH antagonist, có cấu trúc là một phân tử peptide gồm 10 amino acid với các chức năng quan trọng ở các vị trí 1, 2, 3, 6 và 10. Vị trí số 6 liên quan đến việc phân chia men, vị trí số 2 và 3 làm giải phóng gonadotrophin và vị trí số 1, 6 và 10 quan trọng trong cấu trúc 3 chiều của phân tử. So sánh với GnRH tự nhiên của cơ thể, ganirelix có những thay đổi trong cấu trúc phân tử ở 6 vị trí: 1, 2, 3, 6, 8 và 10.
GnRH antagonist cạnh tranh, gắn vào thụ thể của GnRH tại tuyến yên, ngăn ngừa tác động của GnRH nội sinh, gây ức chế sự giải phóng LH và FSH nội sinh từ tuyến yên trong vòng 6 – 8 giờ sau tiêm thuốc.
Với những ưu điểm trên của GnRH antagonis, nhưng hiện nay việc sử dụng thuốc này vẫn còn bàn cãi và cần được nghiên cứu nhiều hơn bởi:
- Thời điểm dùng vẫn còn bàn cãi.
- Một số trung tâm thì dùng vào ngày thứ 7 của vòng kinh.
- Một số trung tâm dùng vào ngày nang noãn đạt 14 mm.
- Tỉ lệ thai lâm sàng của phác đồ kích thích buồng trứng GnRH antagonis so với GnRH agonis chưa vượt trội.
Phác đồ GnRH antagonist:
- Một số vấn đề còn cần nghiên cứu thêm để hoàn thiện phác đồ sử dụng
- Hứa hẹn là một phác đồ sử dụng rộng rãi trong kích thích buồng trứng bơm tinh trùng vào buồng tử cung trong tương lai gần

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Mahutte MG, Arici A. Role of gonadotropin-releasing hormone antagonists in poor responders. 2007;87:241–9.
2. Schmidt DW, Bremner T, Orris JJ,Maier DB, Benadiva CA, Nulsen JC. A randomized prospective study of microdose leuprolide versus ganirelix in vitro fertilization cycles for poor responders. Fertil Steril 2005;83:1568–71.
3. Albano C, Smitz J, Camus M et al (1997). Comparison of different doses of GnRH antagonist cetrorelix during controlled ovarian hyperstimulation. Fertil Steril;67:917-922.
4. Diedrich K, Diedrich C, Santos et al (2002). Suppression of the endogenous LH surge by GnRH antagonist cetrorelix during ovarian stimulation. Hum Reprod;9:788-91.
5. Felberbaum RE, Ludwig M, Lunenfeld B, Diedrich K (2002). GnRH antagonists in assisted reproduction.
6. Ludwig M, Katalinic A, Diedrich K (2001). Use of GnRH antagonists in ovarian stimulation for assisted reproductive technologies compared to the long protocol: Meta-analysis. Arch Gynecol Obstet; 265:175-182.
7. Oliviennes F, Fanchin R, Bouchard P et al (1995). Scheduled administration of GnRH antagonist cetrorelix on day 8 of IVF cycles: a pilot study. Hum Reprod;10:1382-6.
8. The European Orgalutran Study Group (2000). Treatment with the GnRH antagonist ganirelix in women undergoing ovarian stimulation with recombinant FSH is effective, safe and convenient: results of a controlled, randomised, multicenter trial. Hum Reprod;15:1490-8.
9. The European and Middle East Orgalutran Study Group (2001). Comparable clinical outcome using the GnRH antagonist ganirelix or a long protocol of the GnRH agonist triptorelin for the prevention of premature LH surges in women undergoing ovarian stimulation. Hum Reprod;16:644-51.
10. The North American Ganirelix Study Group (2001). Efficacy and safety of ganirelix acetate versus leuprolide acetate in women undergoing controlled ovarian hyperstimulation. Fertil Steril;75:38-45.



Hiếm muộn



