(Dịch từ Fertility and Sterility, Vol 89, No 3, tháng 3, 2008)
Nhóm workshop đồng thuận PCOS do ESHRE/ASRM tài trợ Thessaloniki, 2-3 tháng 3, 2007, Thessaloniki, Hy Lạp.
Có nhiều tranh cãi về việc điều trị cho phụ nữ vô sinh có hội chứng buồng trứng đa nang. Dựa trên nền tảng những chứng cứ hiện có, một nhóm các chuyên gia đã có một sự đồng thuận về các thử thách điều trị cho các phụ nữ này.
Trước khi bắt đầu bất kỳ can thiệp gì, nên tư vấn trước khi thụ thai nhấn mạnh tầm quan trọng của lối sống, đặc biệt là giảm cân và tập thể dục ở những phụ nữ thừa cân, hút thuốc và uống rượu. Điều trị đầu tay để gây phóng noãn vẫn là Clomiphene Citrate (CC) kháng estrogen.
Nếu CC không cho kết quả có thai thì can thiệp thứ hai là Gonadotropins ngoại sinh hoặc phẫu thuật nội soi buồng trứng (LOP). Việc sử dụng Gonadotropins ngoại sinh làm tăng nguy cơ đa thai, vì thế, cần theo dõi sát đáp ứng của buồng trứng. Phẫu thuật nội soi buồng trứng đơn thuần thường chỉ hiệu quả không đến 50% các phụ nữ, và cần sử dụng thêm thuốc gây phóng noãn cho các tình huống này. Nói chung, gây phóng noãn (như kiểu mẫu CC – Gonadotropin) được báo cáo là có hiệu quả cao với tỷ lệ đơn thai sinh sống là 72%.
Lựa chọn điều trị thứ 3 là thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Nên phát triển những tiếp cận hướng về bệnh nhân hơn dựa trên những đặc tính ban đầu của bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang. Những tiếp cận như thế có thể hướng đến những lựa chọn đầu tay như đề cập ở trên, lựa chọn thứ hai hoặc lựa chọn chiến lược gây phóng noãn thứ ba cho từng nhóm bệnh nhân được xác định rõ.
Sử dụng Metformin trong hội chứng buồng trứng đa nang nên giới hạn ở nhóm phụ nữ bất dung nạp glucose. Dựa trên những chứng cứ mới nhất trong y văn, không có khuyến cáo sử dụng thường quy thuốc này để gây phóng noãn.
Hiện tại không có đủ chứng cứ để khuyến cáo sử dụng thuốc ức chế men thơm hóa trong gây phóng noãn thường quy. Ngay cả những thai kỳ đơn thai trong hội chứng buồng trứng đa nang cũng có nguy cơ về sức khỏe của cả mẹ và thai nhi tăng.



Hiếm muộn



