Liên quan giữa số lượng tinh trùng di động và thành công của bơm tinh trùng vào buồng tử cung
BS.Dương Khuê Tú
15/06/2009

 

BS.Dương Khuê Tú, Cổ Phí Thị Ý Nhi, Hoàng Thị Diễm Tuyết

Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (Intrauterine insemination – IUI) là một phương pháp điều trị vô sinh được áp dụng phổ biến trong các trường hợp thiểu nhược tinh. Hiệu quả của IUI phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến số lượng và chất lượng tinh trùng.
Nhiều tác giả trên thế giới đã tiên lượng thành công của IUI dựa vào chất lượng tinh trùng sau lọc rửa. Theo một số nghiên cứu, ngưỡng số lượng tinh trùng di động sau lọc rửa tối thiểu được đề nghị khi thực hiện IUI dao động từ 0,8x106 - 20x106.
Đây là nghiên cứu thống kê mô tả với mẫu là các cặp vợ chồng điều trị IUI tại Khoa Hiếm Muộn Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 1.2007 đến tháng 12.2008 chỉ do nguyên nhân thiểu nhược tinh (loại trừ các nguyên nhân do vợ lớn tuổi, tắc vòi trứng, rối loạn phóng noãn…), thời gian vô sinh từ 12 tháng trở lên.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ dày nội mạc tử cung (Bảng 2) và số nang vượt trội trung bình ở 2 nhóm tinh trùng di động sau lọc rửa < 5x106 và ≥ 5x106 không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Tỉ lệ thai lâm sàng nói chung trong chu kỳ là 12,8%. Khi tổng số tinh trùng di động sau lọc rửa < 5x106, tỉ lệ thai lâm sàng là 10,5%, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với tỉ lệ thai lâm sàng của các trường hợp tinh trùng di động sau lọc rửa  ≥ 5x106 (13,1%) (p<0,05).
Chúng tôi cũng nhận thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ thai lâm sàng giữa nhóm nội mạc tử cung < 8mm và ≥ 8mm (Bảng 3), cũng như giữa nhóm ≥ 3 nang có đường kính tối thiểu 16mm và < 3 nang có đường kính tối thiểu 16mm (Bảng 5). Như vậy ngoài yếu tố tinh trùng, độ dày nội mạc tử cung và số nang vượt trội cũng ảnh hưởng lên tỉ lệ thành công của IUI.
Điều này cho phép chúng tôi tiên lượng được tỉ lệ thành công của IUI dựa trên số lượng tinh trùng di động sau lọc rửa. Đây là nền tảng giúp cho công tác tư vấn cơ hội mang thai của bệnh nhân ngay trước khi thực hiện IUI.