Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cấp thiết của việc chuẩn hóa các phương pháp phân tích tinh dịch ở người, Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã phát hành Laboratory manual for the examination of human semen and sperm-cervical mucus interaction lần đầu tiên vào năm 1980. Phiên bản lần hai và lần ba vào năm 1987 và 1992, lần thứ tư vào năm 1999. Cẩm nang về xét nghiệm tinh dịch này đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ và được nhiều chuyên gia trên thế giới sử dụng rộng rãi. Với những hướng dẫn này, tinh dịch đồ sẽ được phân tích theo trình tự, đánh giá theo các phương pháp và tiêu chuẩn thống nhất đã được chuẩn hóa. Trải qua 30 năm, cẩm nang này đã trở thành chuẩn toàn cầu và đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều trung tâm trên thế giới. Xuất bản năm 2010 với tiêu chí thay đổi và cập nhật nhằm cung cấp những kết quả tinh dịch đồ chính xác hơn, hợp lý hơn nhằm phục vụ cho lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị.

NHỮNG THÔNG TIN CẬP NHẬT CHÍNH
Những giá trị tham khảo được WHO 2010 đưa ra trong phiên bản này dựa trên cơ sở nghiên cứu và thống kê các mẫu tinh dịch được thu thập từ nhóm đàn ông mà theo WHO 2010 là hợp lý nhất (người chồng, tuổi từ 17- 67, có khả năng sinh sản, có con chậm nhất là 12 tháng) được cung cấp từ những trung tâm dùng phương pháp phân tích tinh dịch được chuẩn hóa từ 8 quốc gia trên 3 châu lục khác nhau với độ tin cậy 95%. Nghiên cứu này được thống kê từ 1900 mẫu tinh dịch nhằm đánh giá những đặc tính cơ bản của tinh trùng và tinh dịch của nam giới bao gồm: thể tích, mật độ, tổng số tinh trùng/ xuất tinh, độ di động, hình dạng bình thường và tỷ lệ sống.
Thể tích
Đánh giá thể tích trong mẫu chính xác rất quan trọng, từ đó tính được tổng số tinh trùng trong lần xuất tinh là cơ sở cho việc đánh giá chức năng tinh hoàn.
Đếm tổng số tinh trùng
Tổng số tinh trùng được tính từ mật độ tinh trùng, tổng số tinh trùng trong một lần xuất tinh liên quan đến kích cỡ của tinh hoàn (Handelsman và cs., 1984; WHO, 1987; Behre và cs., 2000; Andersen và cs., 2000) và là tiêu chuẩn đánh giá khả năng sản xuất tinh trùng của tinh hoàn (MacLeod & Wang, 1979).
Tổng số tinh trùng trong một lần xuất tinh và mật độ tinh trùng liên quan đến thời gian mang thai (Slama và cs., 2002) và tỷ lệ mang thai (WHO,1996; Zinaman và cs., 2000) và những tiên đoán về khả năng mang thai (Bonde và cs., 1998; Larsen và cs., 2000).
Đánh giá độ di động
Thay đổi chính về giá trị tham khảo WHO 2010 là phân loại độ di động của tinh trùng. Theo WHO 2010 tinh trùng được phân loại: di động tiến tới, không tiến tới và không di động ( thay cho sự phân loại A, B, C, D trước đây.)
Phân loại độ di động của tinh trùng
PR (Progressive motility) – di động tiến tới: tinh trùng di động tiến tới, thẳng hay theo vòng lớn, không quan tâm đến vận tốc.
NP (Non-progressive motility) – di động không tiến tới: tất cả những dạng di động khác của tinh trùng (di động theo vòng nhỏ, lắc đuôi và đầu không di chuyển….)
IM (Immotility) – không di động: tinh trùng không di động.
Việc đánh giá độ di động của tinh trùng được thực hiện 2 lần trên cùng bệnh nhân được chuẩn bị giống nhau (20 microlít tinh dịch). Đánh giá một cách hệ thống ít nhất 5 vi trường trên tổng số 200 tinh trùng và nên đánh giá 2 lần để làm giảm sự sai số thấp nhất cho phép thực hiện được, sau đó kết quả được so sánh dựa trên hai chỉ số:
• Tỷ lệ khác biệt giữa hai lần đếm của mỗi loại = hiệu số tỷ lệ giữa hai lần đếm.
• Tỷ lệ trung bình của hai lần đếm = Trung bình cộng của tỷ lệ hai lần đếm.
Hai tỷ lệ này được đối chiếu trên bảng phân bố khoảng tin cậy 95% (bảng 1) để đánh giá sai số trong quá trình đếm. Một tỷ lệ khác biệt lớn hơn so với tỷ lệ khác biệt cho phép trên bảng phân bố gợi ý tình trạng đếm không chính xác hoặc tinh trùng không phân bố đồng đều trên tiêu bản. Trong trường hợp này cần thực hiện việc đánh giá hai tiêu bản khác.
Khi thực hiện việc đối chiếu với bảng phân bố, chỉ cần chọn loại nào có tỷ lệ phổ biến nhất để đánh giá ( PR, NP hoặc IM).
Ví dụ:
Độ di động của tinh trùng được đánh giá 2 lần đếm với số lượng tinh trùng là 200 trên mỗi tiêu bản như sau: di động tiến tới 30% và 50%, di động không tiến tới 5% và 15%, không di động 65% và 35%. Trong 3 loại trên loại không di động là phổ biến nhất (65% và 35%) với tỷ lệ trung bình 50% và tỷ lệ khác biệt là 30%. Dựa trên bảng phân bố khoảng tin cậy dưới đây có thể thấy rằng với N = 400 tinh trùng cho mỗi mẫu với tỷ lệ trung bình 50%, tỷ lệ khác biệt cho phép sẽ chỉ là 10%.

Với tỷ lệ khác biệt là 30% trong kết quả đọc 2 tiêu bản trên sẽ không đủ tin cậy vì vậy kết quả sẽ bị hủy bỏ và nên đánh giá lại trên 2 tiêu bản mới.
Lưu ý: Chỉ đánh giá độ di động trên những tinh trùng thực sự (có cả đầu và đuôi) vì chỉ có những tinh trùng này mới được đếm để xác định mật độ. Không đánh giá độ di động trên những tinh trùng đầu kim.
Tỷ lệ sống
Sức sống của tinh trùng được đánh giá bởi sự nguyên vẹn của màng tế bào trên tất cả các mẫu tinh dịch, đặc biệt quan trọng đối với những mẫu có tỷ lệ di động tiến tới (PR) < 40%. Việc đánh giá tỷ lệ sống cho phép kiểm tra độ chính xác của xét nghiệm đánh giá sự di động của tinh trùng ( vì tỷ lệ tinh trùng chết không được cao hơn tỷ lệ tinh trùng không di động).
Đánh giá hình dạng tinh trùng
WHO 2010 đã đưa ra giới hạn tham khảo về hình dạng bình thường của tinh trùng là 4%, thấp hơn so với tiêu chuẩn Strict criteria (15%) được nhiều tác giả áp dụng (Ombelet và cs., 1997; Guzick và cs., 2001; Gunalp và cs., 2001; Menkveld và cs., 2001). Đó là giá trị hình dạng bình thường thích hợp để phân biệt giữa những người nam có khả năng sinh sản (có thai tự nhiên) và vô sinh (tinh trùng dùng trong IVF, IUI) (Van der Merwe và cs., 2005).
KẾT LUẬN
Tinh dịch đồ là một xét nghiệm đơn giản giúp đánh giá sơ bộ khả năng sinh sản của nam giới.
Một mẫu tinh trùng tốt không những phải đạt chỉ tiêu về thể tích, pH mà còn phải đạt những chỉ tiêu về mật độ, tổng số tinh trùng/ xuất tinh, độ di động, hình dạng bình thường và tỷ lệ sống. Tất cả những thông số ghi nhận được so sánh với giá trị chuẩn, do Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) công bố năm 2010, về tinh dịch đồ.
Để thực hiện tinh dịch đồ, chuyên viên Lab phải thực hiện đánh giá trên 10 chỉ số khác nhau của tinh dịch và tinh trùng. Các đánh giá này cần được thực hiện bởi những chuyên viên được đào tạo bài bản và đủ kinh nghiệm.
Gần đây, các nhà sản xuất giới thiệu một số thiết bị để đánh giá tinh dịch đồ ( máy CASA). Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có thiết bị nào được Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) khuyến cáo là có thể thay thế được người trong đánh giá tinh dịch đồ. Đa số các máy hiện tại đều có ngưỡng đánh giá hẹp (không chính xác với những mẫu có ít hay quá nhiều tinh trùng) và độ chính xác không cao.
Các giá trị tinh dịch đồ bình thường (WHO, 2010)
- Thể tích tinh dịch: ≥ 1.5ml
- pH: ≥ 7.2
- Mật độ tinh trùng: ≥ 15.106/ml
- Tổng số tinh trùng: ≥ 39.106/lần xuất tinh
- Độ di động của tinh trùng:
o PR - di động tiến tới: ≥ 32%
o PR + NP - tổng di động: ≥ 40%
- Hình dạng bình thường: ≥ 4%
- Tỉ lệ sống: ≥ 58%
Tài liệu tham khảo:
1. WHO (2010) Laboratory manual for the Examination and processing of human semen, 5th ed.
2. Cooper TG và cs. (2009) World Health Organization reference values for human semen characteristics. Human Reproduction Update (Advance Access Dec 2009).
3. Menkveld R và cs. (1990) The evaluation of morphological characteristics of human spermatozoa according to stricter criteria. Human Reproduction, 5: 586–592.
4. WHO (1999) Laboratory manual for the examination of human semen and sperm–cervical mucus interaction, 4th ed.




Hiếm muộn




