Sinh sản & Sức khỏe 05/2010
Từ giữa thập niên 1990, một phương pháp ít xâm lấn được giới thiệu trong điều trị u xơ tử cung là thuyên tắt động mạch tử cung[4] (UAE: Uterine Artery Embolization). Y khoa chứng cứ cho thấy UAE có thể thực hiện trước phẫu thuật để làm giảm thể tích khối u xơ và giảm chảy máu.
Những giá trị tham khảo được WHO 2010 đưa ra trong phiên bản này dựa trên cơ sở nghiên cứu và thống kê các mẫu tinh dịch được thu thập từ nhóm đàn ông mà theo WHO 2010 là hợp lý nhất (người chồng, tuổi từ 17- 67, có khả năng sinh sản, có con chậm nhất là 12 tháng) được cung cấp từ những trung tâm dùng phương pháp phân tích tinh dịch được chuẩn hóa từ 8 quốc gia trên 3 châu lục khác nhau với độ tin cậy 95%.
Có nhiều nguyên nhân gây sảy thai liên tiếp, trong đó nguyên nhân do bất thường di truyền rất khó can thiệp và cũng là một trong những nguyên nhân chính gây dị tật bẩm sinh.
Kết quả cho thấy thời gian kiêng giao hợp 0 – 2 ngày trước bơm tinh trùng dẫn đến tăng tỉ lệ thai hơn so với thời gian kiêng giao hợp trên 2 ngày (P < 0.02)
Di truyền đóng vai trò quan trọng trong chức năng sinh sản ở nam và nữ. Các yếu tố di truyền tác động lên tất cả các giai đoạn của hệ thống sinh sản bao gồm : hình thành giới tính, quá trình sinh giao tử (trứng và tinh trùng), cũng như những giai đoạn đầu phát triển của phôi.
Kể từ năm 2002 khi chuẩn quốc gia về cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản ra đời, phá thai nội khoa đầu tiên được cho phép triển khai thành dịch vụ thường qui tại Việt nam.
Vì lợi ích và sự an toàn của trẻ, các bậc phụ huynh cần đem trẻ đi tiêm phòng theo đúng lịch hẹn. Việc tiêm phòng phải được thực hiện đúng chỉ định và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc qui định.
Mỗi người có một định nghĩa khác nhau về tình yêu. Hãy xem xem những nhà tóan học, vật lý học, hóa học....v..v định nghĩa về tình yêu thế nào ?..
Rối loạn xuất tinh là một bệnh lý khá phổ biến ở nam giới bao gồm hai nhóm bệnh lý chủ yếu là:
Xuất tinh sớm: thể hiện chủ yếu ở giới trẻ, trong độ tuổi hoạt động tình dục mạnh.
Xuất tinh muộn, không xuất tinh và không đạt cực khoái: bệnh xảy ra ở giới trẻ lẫn người lớn tuổi.
Chẩn đoán di truyền trước làm tổ (PGD – Preimplantation Genetic Diagnosis) là kỹ thuật dùng để xác định các rối loạn về gen di truyền hay bất thường trong bộ nhiễm sắc thể của giao tử hay phôi ở giai đoạn trước khi phôi bám vào nội mạc tử cung để làm tổ. Quá trình chẩn đoán di truyền trước làm tổ bao gồm hai giai đoạn chính là sinh thiết và chẩn đoán di truyền. Bài viết này giới thiệu về các kỹ thuật sinh thiết và ảnh hưởng của sinh thiết lên sự phát triển của phôi cũng như của các em bé ra đời từ kỹ thuật này.